TRAN XUAN AN - TIEU SU BN. PCDT. NGUYEN VAN TUONG [ 2 ]

Cuốn sách này, tác giả biên soạn để làm sách dẫn, phục vụ việc nghiên cứu "Đại Nam thực lục chính biên" (IV, V, VI); đồng thời, đây cũng chính là đề cương chi tiết của bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử của tác giả: "Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886)" (Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004). Trần Xuân An.

22.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 11)


TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”

(tiếp theo)
(Tệp 11)
(chương chín [chương cuối])


i. CHƯƠNG CHÍN

XXII. THỜI BỊ CHÍNH PHỦ THỰC DÂN PHÁP RA LỆNH BẮT VÀO GIA ĐỊNH, LƯU ĐÀY RA CÔN ĐẢO VÀ LƯU ĐÀY BIỆT XỨ TẬN TA I TI (TAHITI) VỚI BẢN CÁO TRẠNG CỦA TƯỚNG GIẶC CÔ RA XI (DE COURCY)


++ Cô Ra Xi (De Courcy) bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh thượng thư Bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường, giải giao vào Gia Định. Tại Gia Định, ông bị giam giữ cùng 2 người đã bị bắt vào trước đó: Tôn Thất Đính, Phạm Thận Duật. Sau đó, cả ba người đều bị đày ra Côn Đảo, rồi lại bị đày sang Ta I Ti (Tahiti), một quần đảo đã trở thành thuộc địa của Pháp, giữa Thái Bình dương, chếch về phía trung phần châu Mỹ.
Bản cáo trạng do tên thực dân Tham Bô (De Champeaux) đọc về Nguyễn Văn Tường, nội dung như sau:
1. Nguyễn Văn Tường chống nước Pháp từ rất nhiều năm nay.
2. Từ khi làm phụ chính đại thần với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường đã đổng suất quân binh đánh Pháp.
3. Trong thời gian sau ngày kinh đô quật khởi (23-5 âl., Ất dậu [05-7-1885]), Nguyễn Văn Tường được Cô Ra Xi (De Courcy) xin chính phủ Pháp gia hạn hai tháng (lệnh bắt lưu đày đã có từ trước) để lo liệu việc nước và đặc biệt là việc Bắc Kỳ được “lặng yên vô sự” (nguyên văn). Đến ngày 27-7 âl., Ất dậu (05-9-1885) này là hết hạn hai tháng đó. Nhưng kì thực, ở các tỉnh tả kì, có nhiều nơi vẫn còn nổi quân giết dân Thiên Chúa giáo.
4. Do đó, nay Cô Ra Xi (De Courcy) thừa lệnh chính phủ Pháp, kết án Nguyễn Văn Tường: tội lưu đày biệt xứ.
Hôm ấy, lúc chở Nguyễn Văn Tường ra đến cửa biển Thuận An (Thừa Thiên – Huế), cũng là lúc Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình vào đến cửa biển đó (27-7 âl., Ất dậu [05-9-1885]).
Sau đó mấy tháng, trên chuyến tàu lưu đày, khởi hành từ Côn Đảo (*), Phạm Thận Duật chết vì bệnh, bị buông xác xuống biển. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính bị đày đến tận quần đảo Ta I Ti (Tahiti) thuộc Pháp. Như thế, theo chúng, Tôn Thất Đính cũng là trọng phạm (**).
(sđd., tr. 247).
---- (*) Lần này, tàu thủy giặc Pháp mới chở gồm cả hai người lần lượt bị bắt vào trước đó.
(**) Tôn Thất Đính được Pháp phóng thích, đưa di thể Nguyễn Văn Tường về đến Huế, Quảng Trị vào tháng giêng âl., Đinh hợi (1887). Về quá trình chống Pháp và vai trò của ông trong và sau cuộc kinh đô quật khởi, ngụy vương Đồng Khánh cho rằng tội của Tôn Thất Đính không phải nhẹ, nên sai Bộ Binh canh giữ (ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 248). ----

++ Cô Ra Xi (De Courcy), Tham Bô (De Champeaux) đưa văn thư, và cũng cáo thị khắp cả nước:
~~ Trả thành trì kinh đô Huế
~~ Rước tam cung về cung điện
~~ Quan lại sáu bộ vào đóng tại Thành nội, làm việc như cũ
~~ Trả các vật hạng trong kinh thành
(sđd., tr. 247 – 248).
++ Từ Dũ nhắc lại việc triều Nguyễn không có lệ để đàn bà buông rèm nghe chính sự (“thùy liêm thính chính”) ; do đó, phải lập vua mới (theo ý Pháp). Trong thời gian hai tháng vừa qua, Từ Dũ phải buông rèm nghe chính sự, là do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, phải “ngộ biến tòng quyền” (gặp sự biến, ph ải tùy theo đó mà ứng xử cho thích hợp) .
(sđd., tr. 248).
Xin lưu ý các điểm sau đây:
Trong tháng 7 âl., Ất dậu (1885) này: Vụ Quảng Ngãi và vụ Bình Định khác nhau về “ngọn cờ khởi nghĩa”; do đó, vụ Quảng Ngãi bị dập tắt, vụ Bình Định lại được tạo ra việc nghẽn đường giả để ủng hộ, cuối cùng là “rộng tha” (nguyên văn) bằng hiểu thị.
Ngoài ra, hai bản dụ của Từ Dũ trước khi Nguyễn Văn Tường bị bắt là khá thách thức thực dân Pháp và tả đạo Thiên Chúa giáo. Đồng thời, cần hiểu rõ bản cáo trạng của giặc Pháp về Nguyễn Văn Tường bằng các sự kiện ở các tập trước (1850 – 1883), đặc biệt là tập này (1883 – 1885) và ở tập 37 (1885 – 1886) (*): quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp của ông.
---- (*) Xem: ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 33, 35; tr. 133, 134, 136 và tr. 138… ----

+++ Tháng tám âl..
++ Hoàng Hữu Thường (thự hữu tham tri Bộ Binh, quản lí Thương bạc sự vụ): đổi thự hữu tham tri Bộ Hộ, làm việc ở Viện Cơ mật.
(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 248).
++ Miên Định tâu xin kêu gọi các quan ra làm việc, và đề nghị xử phạt, xét bổ.
(sđd., tr. 248).
++ Dụ của Từ Dũ: Pháp trấn giữ phía nam (từ Quảng Nam đến Bình Thuận), phía bắc (từ Quảng Trị đến Thanh Hóa); quan lại các tỉnh làm việc như cũ. Cô Ra Xi (De Courcy), Tham Bô (De Champeaux) hứa: Về sau, Pháp sẽ giao lại cho lính Đại Nam. Pháp bàn tính để Từ Dũ ra sắc dụ cho dân yên tâm (!!!).
(sđd., tr. 248 – 249).
++ Ngày 04-8 âl., Ất dậu (12-9-1885): Kiên Giang hầu vào thành làm vua (Pháp đã bàn việc này từ cuối tháng 7 âl., Ất dậu [1885]). Miên Định, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình phụng dụ, bá cáo cho toàn dân:
~~ “Nghịch thần” (nguyên văn) Tôn Thất Thuyết làm hỏng việc (!!!).
~~ Hàm Nghi bị ép buộc, không về được. Pháp bảo phải có vua mới trả thành trì kinh đô Huế.
~~ “Ba tháng bỡ ngỡ, bốn biển ầm vang…” (nguyên văn). Sự thể không kéo lại được!
~~ Ưng Kỹ làm vua. Ngày 06-8 âl., Ất dậu (1885): vào kinh thành; ngày 11-8 âl., Ất dậu: làm lễ tấn quang.
Phiến tấu đề tên Tham Bô (De Champeaux) lên vị trí thứ nhất, trên cả Miên Định, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình! Tham Bô (De Champeaux) đề nghị đề thêm tên của Cô Ra Xi (De Courcy) (*). Ưng Kỹ dẫu đã bị giáng xuống tước hầu từ trước, nay vẫn chép là quận công Kiên Giang!
(sđd., tr. 249 – 251).
---- (*) Cô Ra Xi (De Courcy), về quyền lực là tối cao, nhưng không thuộc chức sắc của triều đình Huế như Tham Bô (De Champeaux). ----
Chính cái tên Tham Bô (De Champeaux) ở vị trí thứ nhất trong danh sách triều thần, trên cả quan nhiếp chính giám quốc (Miên Định), đã nói lên sự thật về một triều đình đã hoàn toàn mất hết quyền lực. Việc Pháp lập cả hoàng đế Đại Nam càng làm rõ hơn: Đại Nam đã hoàn toàn mất nước vào tay thực dân Pháp!

Xin lưu ý:
Từ đầu tháng 5 âl., Ất dậu (1885) đến đây, người biên soạn (Trần Xuân An) đã lược ghi đầy đủ các chi tiết, kể cả chi tiết nhỏ nhất. Hơn hai tháng được gọi là bước ngoặt lịch sử đã chấm dứt (Nguyễn Văn Tường đã bị lưu đày). Từ đấy, lịch sử Đại Nam đã trượt sang giai đoạn khác: Triều Nguyễn đã thực sự là bù nhìn trong tay giặc Pháp.
Người biên soạn (TXA.), từ kỉ đệ lục ĐNTL.CB. (tập 37 – 38), chỉ ghi chép lại những gì liên quan đến nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (cũng chỉ trong tập 37).
Từ tập 37, người biên soạn (Trần Xuân An) sẽ diễn đạt lại các sự kiện với các chi tiết theo quan điểm khác hẳn với quan điểm mà từ đấy đã là quan điểm chính thống của triều đại Đồng Khánh. Quan điểm ngụy tặc ấy đã chi phối, áp đặt vào sử học của Quốc sử quán triều Nguyễn (và Quốc sử quán đã thuận theo để lưu lại sự thật lịch sử?). Đó là quan điểm đánh giá với tiêu chí ngược, trái nghịch với đạo lí yêu nước của dân tộc và công lí của nhân loại. Quan điểm của ngụy triều Đồng Khánh thể hiện rõ ở kỉ đệ lục (2 tập 37 – 38) như sau:
~~ 1. Gọi người yêu nước, chống Pháp và trung nghĩa đích thực bằng “giặc”, “bè đảng làm loạn”, “quyền thần”…
~~ 2. Gọi thực dân Pháp, bọn tay sai, nịnh hót Pháp và ủng hộ triều đình Đồng Khánh bù nhìn, phản dân hại nước, bằng “ngài” và bằng những từ ngữ tôn xưng khác. Trong loại này, có cả “tả đạo”.
~~ 3. Gọi những kẻ thuộc lực lượng dựa vào Pháp, câu kết chặt chẽ và mật thiết với Pháp để chống người yêu nước, chống đạo lí dân tộc và, đặc biệt là còn chống cả nhà Nguyễn, cụ thể ở giai đoạn này là ngụy triều Đồng Khánh, cũng bằng giặc. Đây là những tên đầu sỏ lợi dụng giáo dân, là bọn lính ma tà, thừa cơ cướp phá, làm suy yếu chính quyền phong kiến bù nhìn để chính quyền này ngày càng oèo uột trong tay giặc Pháp thực dân…


++ Trước đây, lúc chỉ còn một mình Nguyễn Văn Tường ở lại Huế, chính Nguyễn Văn Tường đã tâu xin tam cung cho Miên Định làm nhiếp chính, và cho người đi tìm Ưng Kỹ đang lẫn khuất trong nhà dân về tạm nghỉ ở phủ đệ Tĩnh Gia quận công. Khi đón rước vua Hàm Nghi không được; chính Nguyễn Văn Tường đã có ý định lập Ưng Kỹ làm vua (*).
(ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 23).
---- (*) Thực dân Pháp làm sức ép. Từ Dũ, Miên Định, Nguyễn Văn Tường đành thuận theo và đành phải lập Ưng Kỹ bởi không còn ai trong diện có thể (Ưng Kỹ là hoàng tử thứ hai của Tự Đức).
Mặc dù đã biết trước, nhưng hẳn ông cũng không ngờ Miên Định (giám quốc) và Ưng Kỹ (quốc vương) tệ hại đến mức như thế! ----

++ Đồng Khánh sai làm lại ấn Ngự tiền chi bảo, Văn lí mật sát (*).
(sđd., tr. 24 và tr. 149).
---- (*) Hai loại ấn này, trước đây, Nguyễn Văn Tường sau khi tâu đề nghị vua Hàm Nghi và tam cung xuất hành ra khỏi kinh thành để lánh nạn, đã cho người mang theo. Sau khi nhận sắc dụ (sắc văn) phải ở lại giảng “hòa” với Pháp, qua trung gian cố đạo Lộc (Caspar), ông đã giao lại hai chiếc ấn ấy cho Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết đến lúc này vẫn giữ bên mình. ----
++ Nguyễn Hữu Độ lên án “quyền thần” (!!!).
(sđd., tr. 26).
++ Tháng trước (tức là tháng 7 âl., Ất dậu [1885]), thân hào Quảng Trị đã cùng với quân Vũ Lâm thuộc tỉnh ấy nổi dậy, khởi nghĩa (*).
(sđd., tr. 26 – 27).
---- (*) Đúng vào ngày Nguyễn Văn Tường bị lưu đày (xem: Jabouille, bài “Một trang viết về lịch sử Quảng Trị: tháng 9.1885”, NNBCĐH. [BAVH., 1923], tập X, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, Nxb. TH., 2002, tr. 439.). ----
++ Chiếu lên ngôi của Đồng Khánh (Ưng Kỹ) vẫn lên án “quyền thần” (!!!).
(sđd., tr. 29).
++ Ngụy vương Đồng Khánh viết thư gửi sang Pháp. Trong bức thư hèn hạ của tên vua ngụy này, có đoạn: “Ngày 23 tháng 5 năm nay, kinh thành thất thủ, hai người ấy [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết], thực là căn nguyên tai vạ…”.
(sđd., tr. 33).

XXIV. THỜI ĐÃ BỊ THỰC DÂN PHÁP LƯU ĐÀY VÀO GIA ĐỊNH, CÔN ĐẢO VÀ LƯU ĐÀY BIỆT XỨ TẬN TA I TI (TAHITI), LẠI CÒN BỊ NGỤY TRIỀU ĐỒNG KHÁNH BÙ NHÌN KẾT ÁN, TRUY ĐOẠT HẾT QUAN CHỨC, HÀM TƯỚC, TỊCH BIÊN HẾT GIA SẢN, VÀ XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ ĐỂ HẠ UY TÍN…

++ Tôn nhân phủ và đình thần (lúc này hầu hết là cánh chủ “hòa”, vâng lệnh Pháp) dâng sớ tâu bày “tội trạng” (nguyên văn) những người tạo nên cuộc kinh đô quật khởi (*) và kết án:
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết bị tước đoạt hết hàm tước và tịch thu hết gia sản; Trương Văn Đễ (**) đã quá cố, Trần Xuân Soạn “đều là bè đảng làm loạn” (nguyên văn), cũng bị tước cả quan chức; phải bắt bằng được và chém ngay Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn.
(sđd., tr. 35).
Đây là bản án chung thẩm.
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.
Danh sách bị kết án trên gồm bốn người chủ chốt của cuộc kinh đô quật khởi 22 – 23-5 âl., Ất dậu (04 – 05-7-1885). Phạm Thận Duật hóa ra chỉ là một nhân vật rất mờ nhạt. Tôn Thất Lệ có trực tiếp cầm quân đánh Sứ quán, nhưng vốn ở Sơn phòng Quảng Trị được điều động về bất chợt và chỉ thừa hành, nên cũng không bị giặc Pháp và ngụy triều Đồng Khánh xếp vào loại “bè đảng làm loạn” (nguyên văn).
Như vậy, rõ ràng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã phân công cho nhau: nhiệm vụ “kẻ ở” là đàm và nhiệm vụ “người đi” là đánh. Do đó, Nguyễn Văn Tường đã sử dụng thủ thuật “không biết gì hết” (nguyên văn) trong cuộc kinh đô quật khởi (23-5 âl., Ất dậu 1885) để có thể ở lại Huế điều đình với thực dân Pháp. “Không biết gì hết” , thực chất chỉ là động tác giả. Hai tháng sau ngày 23-5 âl., Ất dậu 1885, Nguyễn Văn Tường vẫn nhất dạng, không thay đổi lập trường chống Pháp, và vẫn nhất dạng với Tôn Thất Thuyết.
---- (*) Một lần nữa, xin nhấn mạnh (xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. , tập 37, sđd., tr. 35 ở cuối tệp này). Đây là lọai thông tin bản án. Trong các loại thông tin, loại bản án (có thi hành án) , cáo thị, mật thư, mật dụ… hiển nhiên có độ khả tín cao nhất. Các loại thông tin anỳ được phối kiểm và kiểm chứng bằng suốt cả quá trình hoạt động lâu dài và ở kết thúc cuộc đời của nhân vật lịch sử (bị lưu đày và chết ở chốn lưu đày biệt xứ).
(**) Năm 1890, Trương Quang Đản có dâng sớ chạy “tội”, kêu “oan” cho Trương Văn Đễ, do quyền lợi chính trị thời bị thực dân Pháp “bảo hộ”!?! Chỉ có một trường hợp duy nhất như vậy (xem “Đại Nam liệt truyện”, tập 3, sđd., tr. 425 – 426). Người biên soạn (Trần Xuân An) nghĩ rằng, ngoài việc cùng chủ trương cuộc kinh đô quật khởi, Trương Văn Đễ còn được giao nhiệm vụ cản hậu và đánh lạc hướng truy kích vua Hàm Nghi mà thực dân Pháp cố quyết tiến hành. Riêng chi tiết (cản hậu, đánh lạc hướng) này, cần được nghiên cứu, xác minh thêm. Cũng cần lưu ý (để tìm thêm tư liệu): Trương Văn Đễ và Đinh Tử Lượng, hai người hai cánh quân, với động tác giả tìm theo dấu vết vua Hàm Nghi, đều bị chết ngay trong tháng 7 âl., Ất dậu 1885 (xem lại: tập 36, sđd., tr. 243: Phải chăng cả hai vị đều chết vì bệnh? Phải chăng đều bị giặc Pháp, “tả đạo” đầu độc mà không ai biết được ngoài chúng?). ----

++ Bãi bỏ Nha Sơn phòng Hà Tĩnh.
(sđd., tr. 35).
++ Vốn trước đây vì húy kị tên vua Kiến Phúc (Ưng Hỗ), ở trường hợp đồng âm hoặc gần đồng âm, nên đổi “Bộ Hộ” thành “Bộ Hội”, “hộ vệ” thành “cận vệ” (*). Nay Bộ Hộ xin vẫn dùng như cũ khi làm giấy tờ, bởi lúc trước, câu nệ quá. Ngụy vương Đồng Khánh cho là “Sự ngu của Tường, Thuyết kể làm gì!” (nguyên văn).
(sđd., tr. 36).
---- (*) Ưng Hỗ = Ưng Hộ; tương tự có: Từ Dũ = Từ Dụ; Trần Thúc Nhẫn = Trần Thúc Nhận; Nghệ – Tĩnh = Nghệ – Tịnh; nghĩ xử = nghị xử… Về mặt chữ Hán, chữ Hội (tụ họp) hay hơn, rộng nghĩa hơn chữ Hộ (cái cửa, cái nhà). Chữ Hội trong danh ngữ “Bộ Hội”, phù hợp với nền kinh tế đã phát triển kinh tế hàng hóa, thị trường, không còn tự cấp, tự túc như thời cổ đại (chỉ chăm lo “cái hộ” thôi!). ----
Thật đúng như vua Tự Đức nhận xét về Ưng Kỹ (Đồng Khánh): Học chưa thông mà kiêu ngạo, tâm địa không trung trực, không phải bản chất người thuần lương (di chúc của Tự Đức).
Xem tiếp: Về việc kiêng tên húy của Đồng Khánh, chính Đồng Khánh cũng tránh trường hợp đồng âm hoặc gần đồng âm như vậy! (tập 37, sđd., tr. 81)
.
++ Miên Định nghỉ chức nhiếp lí quốc chính.
(sđd., tr. 39).
++ Đình chỉ huy hiệu hoàng thái phi của Học phi Nguyễn thị; cho là do ý của “quyền thần” (nguyên văn).
(sđd., tr. 39).
Thực ra là do Hiệp Hòa tạo ra tiền lệ, phong cho mẹ ruột trước.
(xem lại: tập 35, sđd., tr. 216 – 217, 246).
++ Triệt hồi tuần phủ Quảng Trị Trương Quang Đản về kinh, vì Trương Quang Đản thuận theo khi thân hào Quảng Trị nổi dậy Cần vương vào cuối tháng 7 âl., Ất dậu [1885] (*)
(sđd., tr. 39 – 40).
---- (*) Đúng vào ngày Nguyễn Văn Tường bị lưu đày. ----
++ Lê Ninh ở Hà Tĩnh khởi nghĩa.
(sđd., tr. 41 – 42).
+++ Tháng chín âl..
++ Hàm Nghi đến Nha Sơn phòng Hà Tĩnh. Thân hào đón tiếp. Liền đó, vua cho dựng thêm nhà cửa, tính kế đóng lâu dài ở đấy.
(sđd., tr. 43 – 44).
++ Tham Bô (De Champeaux) về Pháp; Ba Duy Đam (Proudhomme) thay.
(sđd., tr. 44).
++ Vua bù nhìn Đồng Khánh lên án “quyền thần” (nguyên văn), đồng thời lại không ngớt nịnh hót thực dân Pháp trong tờ chế phong Bảo quốc công cho Ba Duy Đam (Proudhomme).
(sđd., tr. 50).
++ Triệt hồi tổng đốc Bình – Phú Lê Thận về kinh theo lệnh Pháp.
(sđd., tr. 52).
(xem lại: tập 36, sđd., tr. 241 – 242).
++ Vũ Tử Văn: thương tá Quảng Trị. Đồng Khánh dặn dò và răn đe: “… Hiện thời có người nói: Việc quấy nhiễu ở Quảng Trị là tự Tử Văn xướng xuất” .
(sđd., tr. 54).
(xem lại: sđd., tr. 26 – 27, tr. 39 – 40).
++ Khởi binh ở Bãi Sậy (giáp giới Hưng Yên – Bắc Ninh). Cao Xuân Dục đánh thắng quân Cần vương Bãi Sậy (!!!).
(sđd., tr. 54 – 55).
++ Thân hào Phú Yên khởi nghĩa, toan đến Bình Định.
(sđd., tr. 55 – 56).
++ Truy phục nguyên hàm cho Trần Tiễn Thành (*).
---- (*) Ngụy triều Đồng Khánh còn truy phục cho cả Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp… (tháng 11 âl., Bính tuất [1886]; sđd., tr. 222 – 226). Xem thêm: tháng 10 âl., Ất dậu (1885) [bên dưới]; sđd., tr. 61 – 62. ----
++ Tôn Thất Thuyết bị tước “Tôn Thất”, đổi theo họ mẹ, thành Lê Thuyết.
(sđd., tr. 56 – 57).
++ “Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỉ” , trước đây, biên soạn còn sơ lược, nay đều bỏ hết (mặc dù mới làm theo thể thức sách Đông Hoa, Tự Đức có xem qua, và cũng mới khởi làm thực lục vào tháng giêng âl., Ất dậu [1885]).
(sđd., tr. 57).
Thật ra, về sau, đến thời Thành Thái, toàn bộ kỉ đệ tứ đã được biên soạn lại.
+++ Tháng mười âl..
++ Pháp và quân tỉnh Quảng Trị đánh quân Cần vương sở tại. Đó là nghĩa binh do Trương Đình Hội, Trần Quang Chuyên, Hoàng Hoãn, Nguyễn Tự Như tổ chức, chỉ huy.
(sđd., tr. 60).
++ Khai phục: có mức độ cho Miên Trinh (Tuy Lý vương), Miên Triệu, Miên Tranh (Tằng), Hồng Đãn (Đĩnh); và khai phục theo hàm chức cũ: Hồng Tu, Ưng Phương (*)… Vẫn kết án nguyên tội danh Hồng Hưu (câu kết với thực dân Pháp qua khâm sứ Lê Na [Rheinart], tiết lộ quân quốc trọng sự, âm mưu tiếm đoạt ngai vàng) và vụ Hồng Hưu – Đồng Xuân (loạn luân có quả tang). Đồng Xuân (Gia Đốc) được đổi tên là Phục Lễ (phải chịu tuân theo lễ giáo). Tất cả các vụ trên, được cho là đến nay, thời thế chính trị đã khác trước, nên gia ân châm chước về tước và lương bổng (dành cho hoàng thân).
(sđd., tr. 61 – 62).
(xem lại: tập 36, sđd., tr. 176 – 178).
---- (*) Ưng Phương (cháu nội Tuy Lý vương Miên Trinh), đã đỗ cử nhân, về sau làm ở Quốc sử quán, là một trong khoảng 50 viên chức biên soạn ĐNTL.CB. đệ tứ kỉ. Xem danh sách sử quan Quốc sử quán thời đoạn biên soạn phần sử ấy: tập 27, sđd., tr. 28. Qua đó, hậu thế có thể thấy tinh thần “sử học bất vị thân” và cơ chế làm việc tập thể của Quốc sử quán triều Nguyễn. ----
++ Tịch biên 12 mẫu ruộng tư của Nguyễn Văn Tường tại xã Triều Sơn (Thừa Thiên).
(sđd., tr. 63).
++ Nguyễn Xuân Ôn (đốc học), Lê Quang Nhạ (Sơn phòng sứ) ở Nghệ An khởi nghĩa.
(sđd., tr. 67).
++ Ngụy vương Đồng Khánh ra dụ khuyên sĩ dân thôi cần vương, xướng nghĩa chống Pháp. Trong bản dụ, có những từ ngữ cho rằng Tôn Thất Thuyết đã “cổ động, mê hoặc sĩ dân”, “khôi phục”…
(sđd., tr. 67 – 69).
++ Đồng Khánh ra dụ cho sĩ dân Bắc Kỳ: lên án “giặc Thuyết” (*) (nguyên văn)
(sđd., tr. 69 – 72).
(xem thêm: sđd., tr. 75 – 76).
---- (*) Tôn Thất Thuyết. ----
++ Chế hiệu cờ “bảo hộ”: cờ vàng, ở góc phía trên sát cán cờ có một lá cờ “tam tài” nhỏ (chiếm 1/4 diện tích của toàn lá).
(sđd., tr. 75).
Ngụy triều Đồng Khánh công khai thừa nhận “bảo hộ”!
++ Quân Pháp đến Sơn phòng Hà Tĩnh. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi về lại thượng du Quảng Bình. Tháng 9 âl., Ất dậu (1885) vừa qua, khi còn ở Hà Tĩnh, Hàm Nghi đã ban chiếu chỉ triệu mời thân hào Hà Tĩnh và bố trí quan chức (*). Đến nay, sau khi lưu vua ở đồn Ve (Quảng Bình), Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn đã sang Trung Hoa cầu viện (mặc dù hai ông thừa biết Pháp, Hoa đã kí kết hiệp ước Thiên Tân 1885!).
(sđd., tr. 75 – 76).
(xem lại: sđd., tr. 69 – 72).
---- (*) Xin lưu ý: Đây thật sự là chiếu chỉ, chứ không phải sắc dụ. Tinh thần chiếu chỉ này, theo sự lược chép trong ĐNTL.CB., sđd. số tr. đd., có nội dung là chọn Sơn phòng Hà Tĩnh làm kinh đô kháng chiến và sự triệu tập, phân công, trao chức cho các thân hào, sĩ phu. Chiếu chỉ có tính chất long trọng, phù hợp với nội dung trên. Tuy thế, lâu nay, trong nhiều cuốn sách được viết về sau, các tác giả cứ căn cứ vào bản thường được gọi là “Hàm Nghi đế chiếu” hay “Chiếu Cần vương [số 2]” trong sách của Gosselin (“L’Empire d’Annam”), để đồng nhất với chiếu chỉ này. Thật ra, theo nội dung lược chép nói trên, giữa văn bản Gosselin in làm phụ lục và chiếu chỉ này không có điểm nào giống nhau, và ngay ngày tháng trên hai văn bản chiếu chỉ cũng sai khác (bản Gosselin: 11-8 âl., Ất dậu [1885]; chiếu chỉ này lại được công bố vào tháng 9 âl., Ất dậu [1885]). Thêm một lẽ quan trọng khác nữa, trong quãng thời gian từ khi Đồng Khánh lên ngôi đến thời điểm này (tháng 10 âl., Ất dậu [1885]), lúc Tôn Thất Thuyết đã sang Trung Hoa, ĐNTL.CB. không ghi nhận một bản chiếu chỉ nào có nội dung như trong sách Gosselin, cho dù ghi nhận gián tiếp (qua sự “phê phán phản hồi” của Đồng Khánh chẳng hạn). Đó là những luận cứ, người biên soạn (TXA.) mạn phép bổ cứu vào bài viết của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc (Kỉ yếu HNKHLS., ĐHSP. TP.HCM., 20-6-1996, tr. 25 – 30; và đã đăng lại trên tạp chí Xưa & Nay, số 126, tháng 11-2002, tr. 9 – 11). (Xem thêm: tháng hai âl., Bính tuất (1886); sđd., tr. 132 – 141). ----
+++ Tháng mười một âl..
++ Pháp đánh chiếm Sơn phòng Quảng Nam. Trần Văn Dư bi giết chết.
(sđd., tr. 78 – 79; tr. 93 – 94).
Trần Văn Dư (Trần Dư), người Tam Kỳ, Quảng Nam; vốn là thầy dạy học của Ưng Kỹ (Đồng Khánh). Trong thời điểm này, ông tỏ ra phân vân, thiếu quả quyết, nhưng vẫn bất khuất.
++ Thủ lĩnh Đào Doãn Địch ở Bình Định ốm, chết vào tháng 8 âl., Ất dậu (1885). Nay các nghĩa sĩ Cần vương vẫn còn nổi dậy.
(sđd., tr. 79).
++ Khác với Nguyễn Thân, kẻ đã hoàn toàn “quay giáo, trở cờ” theo giặc Pháp và ngụy vương Đồng Khánh, Đinh Hội đã theo phe Cần vương, sau khi “bị” phe Cần vương “bắt”. Đến nay, đồn Lão Thuộc đã thuộc về nghĩa binh.
(sđd., tr. 67, 80 – 81).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Lại bùng lên phong trào Cần vương tại Quảng Nam. Du kẻ “tội” (!!!) Trần [Văn] Dư của Đồng Khánh.
(sđd., tr. 93 – 94).
++ Nguyễn Trọng Hợp (quyền kinh lược sứ Bắc Kỳ) dâng sớ xin khen thưởng (!!!) các xã ở Hải Dương, Hưng Yên đã chống lại quân Cần vương.
(sđd., tr. 99).

43) Đồng Khánh năm thứ 1, Bính tuất (1886): 63 tuổi
+++ Tháng giêng âl..
++ Quân Cần vương Quảng Ngãi – Bình Định (Nguyễn Bá Loan (*), Bùi Điền, Đặng Đề) bị tên Nguyễn Thân đánh bại.
(ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 103 – 104).
---- (*) Con trai của nhân vật chủ “hòa” Nguyễn Bá Nghi. ----
++ Tín đồ Thiên Chúa giáo ở Quỳnh Lưu (tỉnh Nghệ An) đốt phá huyện lị và các xã Quỳnh Đôi, Bào Hậu.
(sđd., tr. 105).
++ Hách Tô (Hector) thay Ba Duy Đam (Proudhomme).
(sđd., tr. 105).
++ Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thiện Thuật sung làm chánh, phó toàn quyền đưa bản “hòa” ước về mỏ, trao đổi với Hách Tô (Hector) tại Sứ quán, và cũng trao đổi (hỗ giao) “hòa” ước Giáp thân 1884 (*).
(sđd., tr. 105 – 107).
---- (*) Đến lúc này, “hòa” ước Giáp thân 1884 (Patenôtre – Phạm Thận Duật) mới bắt đầu thực sự có hiệu lực. Nhưng tình thế đã hoàn toàn khác trước! ----
++ Đồng Khánh muốn tấn tôn mẹ nuôi là Thiện phi Nguyễn Đình thị (là con gái Nguyễn Đình Tân) làm hoàng thái phi. Từ Dũ đồng ý, giao cho đình thần bàn. Đình thần cho rằng phong như đã phong Học phi là sai. Thiện phi cũng không được phong!
(sđd., tr. 108 – 109).
Thật ra, đình thần ngụy triều Đồng Khánh quá hẹp hòi, xét theo quan điểm lịch sử – cụ thể. Dưới triều Nguyễn, ngay cả ông bà, bố mẹ, vợ con của quan to cũng được phong hàm tước (danh dự). Vả lại, 1883, lúc phong hoàng thái phi cho mẹ ruột Hiệp Hòa (Hồng Dật), triều thần cũng đã nghiên cứu các trường hợp tương tự trong sử sách.
Cũng xin lưu ý: Vì Nguyễn Đình Tân (thân sinh Thiện phi) vốn là người “sát tả” nổi tiếng hồi ông làm quan ở Nam Định.
(xem lại: ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 216 – 217, 220).

++ Tịch biên 18 mẫu ruộng tư của Nguyễn Văn Tường ở thôn Thanh Đàm (Thừa Thiên).
(tập 37, sđd., tr. 109).
++ Đồng Khánh lấy con gái của Nguyễn Hữu Độ làm vợ, tấn phong hoàng quý phi (!).
(sđd., tr. 110 – 112).
Hoàng quý phi là bậc cao nhất! Dưới triều Nguyễn, không có lệ lập hoàng hậu cho vị vua còn sống (“tam bất lập”). Trường hợp Bảo Đại về sau, phong hoàng hậu cho Nam Phương (Ma Ri Ét Giăng Nơ [Mariette Jeane] Nguyễn Hữu Thị Lan, tín đồ Thiên Chúa giáo) là ngoại lệ.
+++ Tháng hai âl..
++ Tuần phủ Quảng Trị Cao Hữu Sung đi khắp hạt hiểu thị, quyên góp để giúp dân Thiên Chúa giáo bị đốt phá… Linh mục Quảng Bình, Hà Tĩnh bức bách quan tỉnh, dân làng, lại còn cướp thuyền bè, dỡ đình chùa…
(sđd., tr. 124 – 125).
++ Nhân dân Thanh Hóa đánh Pháp bằng chiến thuật du kích (giấu dao, kiếm trong đòn gánh…).
(sđd., tr. 126).
++ Nha thự phủ Triệu Phong (Quảng Trị) được dời về làm tại xã Cổ Thành, bởi dinh thự cũ đã bị quân (…?) nổi dậy (*) đốt phá.
(sđd., tr. 130).
---- (*) Có những cuộc “đốt phá” không được ĐNTL.CB. ghi rõ là quân thuộc lực lượng nào. Đó là tín đồ Thiên Chúa giáo phục thù, cướp chính quyền? Quân Cần vương đánh Pháp và ngụy? ----

XXV. THỜI ĐÃ BỊ LƯU ĐÀY BIỆT XỨ SANG TA I TI (TAHITI) NHƯNG ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT HUẦN THẦN TRUNG NGHĨA VẪN CÒN ÂM VANG TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

++ Lãnh phủ doãn Thừa Thiên Phan Liêm và tham tá Các vụ Phạm Phú Lâm, sung làm khâm sai, cùng Hải phòng phó sứ Quảng Nam Nguyễn Tạ, sung làm tán lí, đi từ Quảng Nam vào các tỉnh phía nam (cắm cờ tiết, được Pháp cấp quân lính, lương tiền) để ban dụ và cáo thị của Đồng Khánh. Dụ và cáo thị này do Cơ mật viện ngụy triều, khâm sứ thực dân Hách Tô (Hector) cùng các khâm sai kể trên viết; Đồng Khánh sửa lại; ấn quán của Quốc sử quán in ra 100 bản cho mỗi thứ:
~~ 1. Dụ:
Với bản dụ này, bọn thực dân và tay sai đã quy tất cả cho Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết với giọng điệu chống người yêu nước chân chính – những người đã đấu tranh với thực dân Pháp, vì độc lập của đất nước và vì chủ quyền của triều Nguyễn (chỉ kể từ 1883 đến 1885; Đồng Khánh cũng chỉ nhấn mạnh giai đoạn đó). Những kẻ viết bản dụ còn phân tích: sự thể lương – giáo tàn sát nhau diễn ra cũng chỉ vì hiểu lầm là do Pháp gây nên, kể cả nguyên nhân xảy ra cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ. Đó là cách phân tích ngược ngạo, nhằm biện minh cho thực dân Pháp. Qua cách phân tích đó, bản dụ còn thể hiện sự khẳng định ngược ngạo không kém, rằng nguyên nhân đều do Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (xem lại: tập 36, sđd., cuối tr. 224). Đồng thời, bản dụ cũng không quên nịnh hót Pháp…
~~ 2. Cáo thị:
Qua bản cáo thị, bọn thực dân và tay sai đã phân tích chữ “thời”, chữ “nghĩa” theo giọng điệu xâm lược và nô lệ bù nhìn, nịnh hót thực dân Pháp, lên án Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết không theo di chiếu của Tự Đức, lại gây ra chiến tranh với Pháp, chiến tranh Hoa – Pháp, và cả cuộc kinh đô quật khởi; khuyên sĩ dân đừng trung thành với Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường như nhân dân các tỉnh hữu kì (Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An…), như các thủ lĩnh Cần vương (Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Đức Đạt…). Nói chung, bản cáo thị, ngoài việc thể hiện sự lên án Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, còn lại là những lời lẽ chủ bại, thể hiện sự đầu hàng ngoan ngoãn trước sức mạnh của thực dân Pháp, ca ngợi sự “rộng lượng” (!!!) của bọn Pháp cướp nước, bóc lột nhân dân, để minh họa cho chữ “thời”, chữ “nghĩa” hèn hạ và nhục nhã của ngụy triều Đồng Khánh!
(sđd., tr. 132 – 141).
(Hai khâm sai này: Phan [Thanh] Liêm là con trai Phan Thanh Giản [?] và Phạm Phú Lâm là cháu của Phạm Phú Thứ).
Tóm lại, qua bản dụ và bản cáo thị trên, với cách nhìn trên lập trường dân tộc, chống Pháp, sẽ thấy rõ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết có uy tín rất lớn và rất sâu rộng trong sĩ dân phong trào Cần vương.
Và sự thật lịch sử đó đã phủ định rằng: không từng có cái gọi là “Dụ Cần vương số 2” bao giờ!
Bản dụ và bản cáo thị ấy, vô hình trung, ngoài ý định của Hách Tô (Hector), Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm, Phạm Phú Lâm và cả Đồng Khánh, đã làm sáng tỏ sự thật lịch sử cụ thể này: Trong hai tháng sau đêm kinh đô quật khởi (hay còn gọi là “cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 [âl.]” (04 – 05-7-1885), Nguyễn Văn Tường vẫn phối hợp chặt chẽ trong bí mật với phong trào Cần vương, chống thực dân Pháp và tay sai của Pháp là bọn Việt gian, gián điệp, tiêu biểu như Nguyễn Hữu Độ, linh mục Trần Lục…

+++ Tháng ba âl..
++ Linh mục Trần Lục (tỉnh Ninh Bình): gia hàm tham tri Bộ Lễ, sung làm tuyên phủ sứ Thanh Hóa. Đó là do lời tâu xin của Nguyễn Hữu Độ.
(sđd., tr. 143).
++ Phong trào Cần vương ở Quảng Nam vẫn tiếp tục nổi dậy (hoặc giáo dân vẫn tấn công, đốt phá tỉnh thành?).
(sđd., tr. 144).
++ Tổng lãnh sự Pháp là Đinh Long (Địch Long, Dillon) đến thay Hách Tô (Hector). Hách Tô (Hector) thôi chức khâm sứ nhưng vẫn ở lại Huế.
(sđd., tr. 145).
++ Nguyễn Trọng Hợp (tên tay sai đứng đầu Nha Kinh lược Bắc Kỳ) tâu báo về tình hình trong địa bàn. Quân của Nha Kinh lược phối hợp với quân Pháp đánh diệt phong trào Cần vương (!!!) và giặc Khách.
(sđd., tr. 145 – 146).
++ Pôn Be (Paul Bert): toàn quyền đại thần Pháp. Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) đi cùng y đến Huế. Cả hai đều được ngụy triều Đồng Khánh phong tước.
(sđd., tr. 147 – 148).
Quá trình làm tay sai lâu dài và bản chất bán nước của Trương Vĩnh Ký thật là đáng sợ, cho dù Trương Vĩnh Ký là một học giả có thiên tài về ngoại ngữ!
+++ Tháng tư âl..
++ Tuần phủ Hà Tĩnh Vũ Khoa xin xét lại ý kiến lấy giáo dân để đánh dẹp nghĩa binh Cần vương.
(sđd., tr. 157).
++ Phong trào Cần vương Quảng Nam rước bài vị ở Văn Miếu tỉnh lên thờ ở thôn Trung Lộc, huyện Quế Sơn.
(sđd., tr. 158).
++ Đồng Khánh đi kinh lí ra Quảng Trị và các tỉnh phía bắc.
(sđd., tr. 162 – 164).
+++ Tháng năm âl..
++ Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), Nguyễn trọng Tạo sung làm tham tá Viện Cơ mật.
(sđd., tr. 168).
++ Số vàng bạc Tôn Thất Thuyết cho chuyển đến Sơn phòng Quảng Nam (trước đây, Vũ Trọng Bình chuyển vào đó), và ở các Sơn phòng Quảng Trị, Quảng Bình, đều bị Pháp tịch thu. Nay Pháp trả cho ngụy triều Đồng Khánh một nửa, còn một nửa Pháp bảo sẽ cho đúc thành tiền và để chi phí cho các việc quân sự, hành chính…
(sđd., tr. 171 – 172).
+++ Tháng sáu âl..
++ Đồng Khánh lại ra dụ, niêm yết khắp các tỉnh bắc Trung Kỳ, lên án Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi và hiểu dụ sĩ dân, đồng thời nhắc lại việc Từ Dũ treo giải cho ai bắt được Hàm Nghi.
(sđd., tr. 174 – 175).
Xin lưu ý: Lúc này, bản dụ của Đồng Khánh không còn nhắc đến Nguyễn Văn Tường nữa, bởi đây là bản dụ niêm yết trước hết ở Quảng Trị, quê hương của Nguyễn Văn Tường, nơi hồi tháng bảy âl., Ất dậu (1885) đã bùng lên một cuộc khởi nghĩa dữ dội vào ngày Nguyễn Văn Tường bị lưu đày.
++ Nguyễn Hữu Độ và quân thực dân Pháp tiến đánh các vùng miền núi Quảng Trị, nơi có các đồn trại do quân Cần vương thiết lập: đồn Khe Cây Giang, đồn Khe Chữ, đồn Bến Ma. Đồng Khánh cùng đi để thị sát, phủ dụ.
(sđd., tr. 176 – 177).
++ Xây dựng Nha Kinh lược Bắc Kỳ ở trường thi Hà Nội.
(sđd., tr. 177).
Đây là thủ đoạn của Pháp để chúng hoàn toàn thống trị Bắc Kỳ, điều mà Nguyễn Văn Tường phản đối quyết liệt. Ông phản đối thành lập Nha này, phản đối bổ nhiệm Nguyễn Hữu Độ làm ở đấy, nhưng cuối cùng phải nhân nhượng lệnh dụ Từ Dũ, sau ngày 23-5 âl., Ất dậu (1885) .
++ Pôn Be (Paul Bert) tuyên bố hủy bỏ bản phụ ước 6 điểm, kí kết vào tháng 7 âl., Ất dậu (1885), giữa triều đình Đại Nam và Cô Ra Xi (De Courcy).
(sđd., tr. 177).
Đó là bản phụ ước của “hòa” ước 1884, Pháp cố quyết ép buộc Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và triều đình Đại Nam, gây nên “cuộc nghĩa cử đêm 22-5 [âl.]…”. Sự hủy bỏ phụ ước ấy của Pôn be (Paul Bert) là nhằm xoa dịu tình hình vẫn đang sôi dậy phong trào quật khởi Cần vương.
++ Viện Cơ mật do thực dân Pháp và tên tay sai Nguyễn Hữu Độ khuynh loát đưa ra kế họach sáu tháng, gồm 4 điểm (4 biện pháp) để trấn dẹp phong trào Cần vương ở Quảng Trị. Sau đó, đoàn hộ giá Đồng Khánh tiếp tục ra Quảng Bình.
(sđd., tr. 178 – 180, 186, 192 – 193).
Đi đến đâu, Đồng Khánh cũng bị sĩ dân khinh bỉ, oán ghét, nên phải bỏ dở lộ trình, quay vào Huế (theo nhiều tư liệu, chủ yếu là từ cuốn sách của Gosselin).
++ Nguyễn Văn Tường bị lưu đày đến quần đảo Ta I Ti (Tahiti) vào cuối năm Ất dậu (12-1885), trên chiếc tàu thủy Xơ Cóp (Scorft) với Tôn Thất Đính (Phạm Thận Duật bị ốm, đã chết; xác bị buông xuống biển tại eo biển Hạ Châu [Malacca]). Ngày 29 tháng 6 âl., Bính tuất (30-7-1886), Nguyễn Văn Tường mất tại làng Pa Pơ Ét (Papeete) thuộc Ta I Ti (Tahiti). Hai tháng hai mươi ngày sau (20-10-1886), chính phủ Pháp ra quyết định khai quật phần mộ (hầm nổi) và chuyển di thể Nguyễn Văn Tường về Đại Nam. Tôn Thất Đính được phóng thích để đưa linh cữu bạn tù đồng thời là đồng chí chủ chiến của con trai mình (Tôn Thất Thuyết) về nước. Và ông cùng gia đình Nguyễn Văn Tường đã tổ chức chôn cất, vào khoảng tháng giêng âl., năm Đồng Khánh thứ 1, Bính tuất (1886), tại An Cư (nay thuộc xã Triệu Phước), Đăng Xương (Triệu Phong), Quảng Trị, quê hương của Nguyễn Văn Tường. Cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, Nguyễn Văn Tường vẫn kiên định tinh thần chống thực dân Pháp (*).
(sđd., tr. 248)
(xem thêm: các tư liệu khác: Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, “Quốc triều hương khoa lục” , bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 297; Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam” , Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 482 – 483).
---- (*) Người biên soạn (Trần Xuân An) tổng hợp, sau khi đối chiếu các nguồn tư liệu, về cái chết của Nguyễn Văn Tường. Quốc sử quán triều Nguyễn không đề cập đến cái chết và việc di táng di thể của Nguyễn Văn Tường, trong “Đại Nam thực lục, chính biên”, có lẽ do những quy định, biệt lệ nào đó khi chép vào sử kí về cái chết, đặc biệt là ngày chết của các nhân vật lịch sử nói chung (ngay cả việc dùng từ cũng vậy, đều có quy định cho từng thứ bậc: băng, hoăng, tốt, tử; và trường hợp không chép…) (?). Chỉ trong “Quốc triều hương khoa lục”, Cao Xuân Dục và Quốc sử quán mới viết về cái chết của Nguyễn Văn Tường ở quần đảo giữa Thái Bình dương, chếch về phía Trung – Nam Mỹ, với câu: “Sau sự biến năm Ất dậu (1885), chết ở bên Tây” (nguyên văn) (Ta I Ti là thuộc địa của Pháp). Câu ấy đã xác định rõ thời điểm Nguyễn Văn Tường chết.

~x~ Khởi công sưu tầm, nghiên cứu tư liệu vào những tháng cuối năm 1999 (Kĩ mão), để tiến hành thực hiện đề tài ấp ủ từ lâu.
~x~ Khởi soạn ngày 20-03-2001 (26-02 âl., Tân tị HB1).
~x~ Biên soạn xong lúc 17 giờ 11 phút ngày 07-04-2001 (14-03 âl., Tân tị HB1).
~x~ Sửa chữa xong lúc 09 giờ 43 phút ngày 17-04-2001 (24-03 âl., Tân tị HB1).


TP. HCM., 1999 – 2001.
TRẦN XUÂN AN

________________________

PHỤ LỤC
TRÍCH ĐOẠN NGUYÊN VĂN
“ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN”
Bản dịch Viện Sử học
(nguyên là phụ lục thuộc cuốn khảo luận của Trần Xuân An:
Nguyễn Văn Tường [1824 – 1886], ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”
đã được đăng tải trên Tạp chí điện tử Giao Điểm, số tháng 5-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucII.htm



53. Trích phàm lệ của kỉ đệ lục: VIẾT SỬ THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC:

“Phàm lệ phụ biên ở kỷ đệ ngũ, trong đó có một điều chép rõ: từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm Nghi nguyên niên, sau khi kinh thành có việc, đến ngày 10 tháng 8 trở về trước, xe vua dời đi, trong, ngoài không hệ thuộc được, và tự ngày 10 tháng ấy trở về sau đến cuối tháng 9, Cảnh tông Thuần hoàng đế [vua ngụy Đồng Khánh – TXA. ct.] ta tuy đã nối ngôi, nhưng tuyên bố dụ bảo, sợ chưa biết được khắp, niên hiệu vẫn còn chép là Hàm Nghi; về việc Nam – Bắc có vâng theo dụ của vua Hàm Nghi, mà khởi việc cần vương thì đều hãy chép làm “khởi binh”, để có cớ mà nói. Còn tự mồng 1 tháng 10 năm Đồng Khánh Ất dậu trở về sau, ngôi lớn định đã lâu, dụ bảo chắc đã biết khắp cả, mà còn làm liều, thì ở kỷ đệ lục kỷ sẽ lại chép là nghịch; đã được chuẩn cho lục ra để chép vào.
Nay hai tháng 8 và 9 năm Hàm Nghi nguyên niên [tức là tháng 8 và tháng 9 âm lịch, năm Ất dậu (1885) – TXA. ct.], là còn thuộc vào phận tháng của kỷ ấy, cũng vẫn theo thế chép là khởi binh; còn từ mồng 1 tháng 10, là năm Đồng Khánh Ất dậu trở về sau, thì mới chép là nghịch”.

(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 15 – 16).



54. Quốc thư gửi Chính phủ Pháp của ngụy triều Đồng Khánh, tháng 8 Ất dậu (tháng 9.1885):

“… Quyền thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết […].Ngày 23 tháng 5 năm nay, kinh thành thất thủ, xe tiên đế dời đi, hai người ấy thực là căn nguyên của tai vạ […]”.

(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 33).



55. Bản án chung thẩm của ngụy triều Đồng Khánh (có chữ kí của De Courcy) về Nguyễn Văn Tường và 3 thành viên khác của nhóm chủ chiến Triều đình Huế, tháng 8 Ất dậu (tháng 9.1885):

“Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”.

(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 35).



56. Dụ của Đồng Khánh (do khâm sứ thực dân Hector, Nguyễn Hữu Độ hợp soạn, Đồng Khánh chỉ sửa chữa lại), niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng 3.1886):

“… Duy trẫm tin là các sĩ phu, thực tình là nhận nhầm, chứ không có lòng làm loạn; Triều đình đã đem đầu mối họa loạn, là tự Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết gây ra, nói rõ ràng với quan Đại Pháp, đã tin không ngờ, để cho Triều đình ta phải xử trí ngay, cho lương, giáo đều được yên ổn …”.

(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 134).



57. Cáo thị của ngụy triều Đồng Khánh (do hai khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm hợp soạn, Đồng Khánh tự sửa định), niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng 3.1886):

“… Nay Lê Thuyết [Tôn Thất Thuyết – TXA. ct.], trốn tránh ở rừng gập ghềnh, một thân tuy nhỏ, mà coi đất trời như còn hẹp; Nguyễn Văn Tường thì đã bị đi đày; tức là trời trừ kẻ tật ác; huống chi tai ách 10 đời, [mà Quang Vũ trung hưng – VSH. ct.]; con của Tấn công có 9 người, [mà còn được Tùng Nhĩ – VSH. ct.]; xem ý trời cũng có thể biết. Trẫm cùng bọn ngươi, phải nên hết sức lo toan khôi phục lại, để lại thấy được cảnh tượng thái bình như xưa. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân dân – TXA. ct.] theo ý làm liều, hoặc bức đuổi quan tỉnh, hoặc đốt phá phủ, huyện, kháng cự mệnh lệnh Triều đình, cam tâm hết lòng trung với kẻ thù [tức là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, nhưng theo mạch văn, thì chỉ nhắm đến hai phụ chính – TXA. ct.], từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là không loạn [khởi nghĩa – TXA. ct.], rất đáng quái lạ; sao không xem châu Hoan, châu Diễn, Quảng Bình, Quảng Trị (*), mượn tiếng là xướng nghĩa, cần vương, đều đem thân bón cho đồng cỏ, mười nhà thì chín nhà hết sạch; còn những kẻ lọt lưới, thì bị mưa độc, khí núi, liền hóa làm giống sâu ở cát, tức như tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn là thủ xướng, phải giải quân trốn xa, thám hoa Nguyễn Đức Đạt phải đến tỉnh đầu thú; đã thấy được đại khái …”.

(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 138 – 139).

(*) Xem Jabouille, bài “Một trang viết về lịch sử tỉnh Quảng Trị: tháng 9.1885”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1923), bản dịch, tập X, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 434, 439… Xin đối chiếu với ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 26 – 27, tr. 39 – 40, tr. 54, tr. 60, tr. 124 – 125, tr. 130, tr. 162 – 164, tr. 176 – 177, tr. 178 – 180, tr. 186, tr. 192 – 193.



58. Theo lệnh Pháp, ngụy triều Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ, cùng với Phan Liêm, Phạm Phú Lâm tuyên truyền bôi nhọ nhằm triệt hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, để dập tắt phong trào Cần vương, nên đã bị sĩ phu, nhân dân phản ứng, tháng 11 Bính tuất (tháng 12.1886):

“Phó khâm sai Tả trực kỳ là Phạm Phú Lâm chịu tội.
Phú Lâm đến Đà Nẵng, được 10 ngày dâng tập tâu: “Bọn giặc [quân Cần vương, ngụy triều Đồng Khánh gọi là “giặc”!!! – TXA. ct.] đưa giấy bắt họ thân và bắt được vợ y, làm đủ hình ác; xin tự trói về kinh đợi tội”; lại lục tư cho Viện Cơ mật, nói: “Giặc hiện bắt xã thôn ấy chỉ dẫn phần mộ tổ tiên của y, nếu để chậm, tất đến mắc vạ; bèn không đợi chỉ, lập tức đáp thuyền về kinh, đến Viện Cơ mật, xin đến Bộ Hình đợi tọâi” (*).
Tập tâu ấy, Viện thần hiện đương nghĩ biên phiếu tâu lên hặc tội, nói: “Phú Lâm không đợi chỉ chuẩn cho, dám tự tiện về, đi lại ở thành thị, không lo sợ chút nào, coi pháp lệnh Triều đình như trò trẻ con, sau này, người khác trông thế bắt chước, thì thành sự thể gì. Xin trước hết giải chức, xích lại giao cho Bộ Hình nghiêm nghĩ, để chỉnh đốn phép làm tôi”.
Vua chuẩn y lời tâu. Sau Bộ nghĩ, xin xử tội 100 trượng, cách chức, không được bổ dụng. Vua cho nghĩ xử ấy là nhẹ, bác đi, giao cho Các thần giữ mực công bằng nghị xử lại. Các thần phúc tâu, nói: “Xin chiểu điều luật “lầm lỡ việc quân” xử tội “trảm giam hậu””.
Vua lại nghĩ đến chú ruột y là Phạm Phú Thứ là cựu thần của tiên triều, vốn có trọng vọng, đáng nên ban ân cho con cháu; mới chuẩn cho cách chức, phát giao đi sai phái làm việc ở đạo Hữu trực kỳ”.

(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 222).

(*) Biện pháp tàn ác gần như tru di tam tộc, tam đại (giết cả người chết, bằng cách quật mồ, băm xương) này, thực ra khởi đầu là do bọn tay sai đắc lực của Pháp khởi xướng, theo lệnh của Pháp, để đàn áp, dập tắt phong trào khởi nghĩa Cần vương. Đó là bọn Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân. Bọn quan tỉnh, thực chất đã là tay sai của thực dân, cũng thực thi biện pháp ấy.
ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 197 ghi rõ: “Vua [bù nhìn Đồng Khánh – TXA. ct.] sai bọn khâm sai Phan Liêm tiến đi, (mang theo 300 lính tập và 100 binh giản). Phạm Phú Lâm vì mẹ ốm và tình trạng giặc [quân Cần vương – TXA. ct.] hoành hành, quấy nhiễu (quan viên hạt tỉnh ấy dự bàn đánh dẹp, đốt nhà, bắt thân nhân, và đào phá phần mộ của giặc), xin thôi chức phó khâm sai. Vua y cho”.
Chúng tôi phải chú thích thêm để thấy rằng, quân Cần vương cũng ở trong cái thế phải dùng “độc trị độc”. Trong trường hợp này, không thể trách quân Cần vương được!
Biện pháp dã man thời Trung cổ ấy, xin được hiểu với cái nhìn lịch sử – cụ thể và phải cần phê phán mạnh mẽ theo quan điểm luật pháp văn minh, công bằng, nhân đạo. Nói rõ hơn, hồi đó sự thể nó như thế; sự thể ấy do nhiều yếu tố của thời bấy giờ chi phối, trong đó có thói tục “một người làm quan cả họ được nhờ”, “một người làm giặc cả họ phải tội”. Và nói rõ hơn, sự thể ấy khác hẳn với quan niệm hiện đại của chúng ta: “ai làm ác nấy chịu, ai có công nấy hưởng”.
Ở đây, chúng tôi liên tưởng đến một trí thức tu sĩ Thiên Chúa giáo nào đó, hiện nay, trong mươi năm gần đây, vẫn còn khoái trá một cách bệnh hoạn, hả hê một cách man rợ khi xem phim Sám hối, ca ngợi một người đàn bà thuộc chủng da trắng châu Âu đã trả thù kẻ cầm quyền độc tài bằng cách ba lần quật mồ y! Vẫn là luật Trung cổ “mắt trả mắt, răng trả răng” ư? Thật rùng rợn và đáng phẫn nộ! TXA.



59. Là chánh khâm sai trong chiến dịch bôi nhọ, triệt hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, nhằm dập tắt phong trào Cần vương, cuối cùng Phan Liêm cũng như Phạm Phú Lâm, đều thú nhận: sĩ phu, nhân dân sáng suốt, giàu lòng yêu nước, không chịu khuất phục giặc Pháp và ngụy triều Đồng Khánh, tháng 8 Đinh hợi (tháng 9 – tháng 10. 1886):

“Giáng chức viên mới chuẩn cho lãnh tổng đốc Bình Thuận, Khánh Hòa là Phan Liêm … […].
[…] … Lúc đầu Liêm đã được mệnh mới, tức thời dâng sớ nói: “Hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, dân sau khi bị loạn, vỗ yên răn dẹp thật khó; Liêm này mình ốm, tài xoàng, sợ không kham nổi chức ấy, xin chọn bậc danh khanh tài cán, lão luyện đến nhận chức; sẽ xin vào kinh chiêm bái, về quê quán chữa bệnh, để dưỡng tuổi trời”.
[…] … Sau khi đã về tới nơi, Liêm lại nói: “Dân hạt ấy, sau khi bị bọn giặc [quân Cần vương – TXA. ct.] mê hoặc [thức tỉnh, giác ngộ – TXA. ct.], chưa chắc mười phần hết ngờ … […]”.
Vua [bù nhìn Đồng Khánh – TXA. ct.] cho Liêm đã nhiều lần từ chối, không cần ủy gượng, đổi sai Văn Phong thay thế, rồi đem Liêm giải chức, giao cho đình thần trừng trị.
Đình thần xin xử tội đánh 100 trượng, cách chức không được trình bày.
Vua lại nghĩ, Liêm đã từng làm tổng đốc, lại là đời đời làm quan, chuẩn cho giáng làm biên tu, bắt về hưu”.

(ĐNTL.CB., tập 38, Nxb. KHXH.,
1978, tr. 12 – 13).




PHỤ LỤC:
CÁC TƯ LIỆU KHÁC

60. Về năm mất của Nguyễn Văn Tường:

Nguyễn Văn Tường, người xã An Cư, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị; vì tên trùng với quốc tính, không chịu đổi, nên bị đi đày, hết hạn lại được phục hàm cử nhân; làm quan tới chức Cần Chánh điện đại học sĩ, phụ trách đại thần, tấn phong Kì Vĩ quận công. Sau sự biến năm Ất dậu (1885), chết ở bên Tây” [*].

(Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 297).

[*] Đảo TAHITI, thuộc địa của Pháp. Xem thêm: Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 478 – 485. Chúng tôi đã có ý kiến ở bài nghiên cứu “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885” về bài báo xuyên tạc và đầy thù hận này, đồng thời vẫn tiếp nhận để sử dụng các tư liệu gốc (ở đây là văn bản hành chính) của thực dân Pháp trong bài báo ấy. TXA.



61. Giấy khai tử, thủ tục hộ tịch về sự qua đời của Nguyễn Văn Tường:

“CÔNG SỞ PHÁP TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG
Đảo Tahiti
Thị chính Papeete
Số 60
Cái chết của ngài Nguyễn Văn Tường
30.7.1886

Trích sao từ sổ hộ tịch của xã Papeete (Tahiti)
năm 1886

GIẤY KHAI TỬ

Năm 1886, 30.7, 4 giờ chiều, trước mặt chúng tôi là Adolphe Marouo Poroi, là sĩ quan hộ tịch của xã Papeete, đảo Tahiti. Có đến: 1. Alphonse Bonnet, là quyền giám đốc Sở Nội vụ của các công sở Pháp tại châu lục, 57 tuổi; 2. Etienne Deheaulme, quyền chánh văn phòng của Sở Nội vụ, 26 tuổi; cả 2 người đều sống tại Papeete, đã khai với chúng tôi là sáng nay, lúc 4.h 30, ngài Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng của Vương quốc An Nam, khoảng 65 tuổi, cư trú tại Papeete, không rõ tên cha mẹ, đã chết; chúng tôi lập giấy khai tử này, và đã ký tên với các nhân chứng; mọi người đều đã đọc.

Chứng nhận trích sao văn bản:

Papeete, 08.12.1922
Ký tên:
A. BONNET,
Thị trưởng
E. DEHEAULME, AM. POROT.

(Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 482 – 483).


62. Trích tin tức về sự qua đời của Nguyễn Văn Tường trên Công báo Tahiti, 05.8.1886, trang 202:

Nguyễn Văn Tường, cựu thủ tướng của Vương quốc An Nam, đến Tahiti tháng hai vừa qua trên tàu Scorff, chết tại Papeete, ngày thứ sáu, 30.7.1886, lúc 4.h 30 sáng.
Thân thể của ông được liệm trong một quan tài bốn lớp, hiện được giữ tạm trong hầm nhà xác để chở về Huế”.

(Aldophe Delveaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 481 – 482).


63. Quyết định di chuyển thi hài Nguyễn Văn Tường về Đại Nam:

“QUYẾT ĐỊNH CHO PHÉP
DI CHUYỂN THI HÀI CỦA NGÀI TƯỜNG
(Công báo của thuộc địa, 09.12.1886)

“Toàn quyền các công sở Pháp tại châu Đại Dương,
Chiếu theo văn thư của Bộ ngày 20.10.1886: chỉ định gửi về nước An Nam thi hài của ngài Tường, chết tại Papeete ngày 30.7 vừa qua,
Chiếu theo đề nghị của giám đốc Bộ Nội vụ,
Quyết định:
Cho phép di chuyển thi hài của ngài Tường, chết tại Papeete, ngày 30.7 vừa qua.
Việc di chuyển sẽ được thực hiện trong sự có mặt của ông chủ sự Y tế và ông trưởng ty Cảnh sát hành chánh có phận sự lập biên bản về việc này.

Do quyết định của toàn quyền:
Giám đốc Sở Nội vụ
A. MATHIVET.

Papeete, ngày 9.12.1886
Th. LACASCADE”.

(Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 482).


DANH MỤC SÁCH BÁO THAM KHẢO (*) (**)

1. BAVH. (Bulletin des amis du vieux Huế), “Những người bạn cố đô Huế”, 1914 – 1925, 11 tập và 1 tập bản dẫn, Đặng Như Tùng, Bửu Ý, Hà Xuân Liêm, Phan Xuân Sanh, Phan Xưng, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Vi, Lê Văn, Trần Thanh, Nhị Xuyên, Nguyễn Cửu Sà dịch, hiệu đính, biên soạn bổ sung bản dẫn, Nxb. Thuận Hóa, 1997 – 1998, 2001 – 2002.

2. Ban Tuyên huấn Trung ương, Vụ Huấn học, “Lịch sử thế giới”, Nxb. Sách Giáo khoa Mác – Lê-nin, 1975.

3. Bửu Kế, “Chuyện Triều Nguyễn”, Nxb. Thuận Hóa, 1990.

4. Cao Xuân Dục, “Quốc triều đăng khoa lục”, Trúc viên Lê Mạnh Liêu dịch, TT. HL. Bộ VHGD. và TN., Sài Gòn, 1962, (bản in 1974).

5. Cao Huy Thuần, “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân [Pháp] tại Việt Nam [1957 – 1914]” (Christianisme et colonialisme au Viet Nam, 1957 – 1914), luận án tiến sĩ tại Pháp (1969), bản dịch, in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973; vừa được Nxb. Tôn Giáo tại Hà Nội xuất bản với bản dịch mới của Nguyên Thuận (vào tháng 02.2003), với sự thay đổi nhan đề: “Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1957 – 1914)” (Les missionnaires et la politique colonial française au Viet Nam, 1857 – 1914) [!?!].

6. Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, “Quốc triều hương khoa lục”, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm, Cao Tự Thanh dịch, hiệu đính, Nxb. TP. HCM., 1993.

7. Du Long, bài báo “Khi giáo hoàng thống hối…”, Tuổi trẻ Chủ nhật, số 11 – 2000/848, 19.3 – 25.3.2000.

8. Dương Kinh Quốc, “Việt Nam, những sự kiện lịch sử, 1858 – 1896”, tập 1, Nxb. KHXH., 1981.

9. Hoàng Tiến, “Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết thế kỉ 20”, Nxb. Thanh Niên, 2003.

10. Khoa Sử Trường Cao đẳng Sư phạm TP. HCM., “Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử về “Nhóm chủ chiến Triều đình Huế cuối thế kỉ XIX””, 11.1991.

11. Khoa Sử Trường Đại học Sư phạm TP. HCM., “Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử về “Nhóm chủ chiến Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường””, 20.6.1996.

12. Lam Giang, Võ Ngọc Nhã (sưu tầm), “Đặng Đức Tuấn, tinh hoa công giáo ái quốc”, giới thiệu nguyên văn 2 hai sử ca: “Dậu Tuất niên gian phong hỏa ký sự” và “Đại loạn năm Ất dậu”, Sài Gòn, 1971.

13. Lê Quang Thái, “Thử nhận định lại nhân vật Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”, tạp chí Cửa Việt số 13, tháng 4.1992.

14. Lương An (sưu tầm, chỉnh lí, giới thiệu, chú thích), “Vè chống Pháp”, gồm vè “Thất thủ Thuận An” và vè “Thất thủ kinh đô”, Nxb. Thuận Hóa, 1993.

15. Nhiều tác giả, “Đại cương lịch sử Việt Nam”, toàn tập, Nxb. Giáo Dục, 2001.

16. Nhiều tác giả, “Từ điển văn học”, 2 tập, Nxb. KHXH., 1983 – 1984.

17. Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Q. Thắng, “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Nxb. Văn Hóa tái bản lần thứ 5, 1999.

18. Nguyễn Q. Thắng, “Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội”, Nxb. VHTT., 2001.

19. Nguyễn Đắc Xuân, “Hương giang cố sự”, Tủ sách Sông Hương xb., 1987.

20. Nguyễn Đắc Xuân, “Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành”, Nxb. Thuận Hoá, 1992.

21. Nguyễn Nhược Thị Bích, “Hạnh Thục ca”, Trần Trọng Kim sưu tầm, phiên âm, Nxb. Tân Việt, 1950 (?).

22. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề về Triều đình Huế giai đoạn 1883 – 1885 qua tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Nhược Thị Bích”, luận văn tốt nghiệp, khoá 1996 – 2000, Khoa Sử ĐHSP. TP. HCM., tháng 5. 2000.

23 Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, Nxb. Mũi Cà Mau, 1994.

24. Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương Ninh, Võ Mai Bạch Tuyết, “Lịch sử cận đại thế giới”, 3 tập, Nxb. ĐH. và TTCN., 1985 – 1987.

25. Nguyễn Văn Kiệm (Viện Nghiên cứu tôn giáo), “Sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, từ thế kỷ XVII đến thế kỉ XIX”, Hội KHLS. VN., TT. UNESSCO. Bảo tồn và phát triển VHDT. Việt Nam, 2001.

26. Nguyễn Văn Mại (Tiểu Cao), “Lô Giang tiểu sử”, Nguyễn Hy Xước dịch, bản in ronéo (bìa in typo), 1961.

27. Nguyễn Văn Tường, “Di cảo Nguyễn Văn Tường”, Trần Đại Vinh dịch, Nxb.?, 1991.

28. Trần Xuân An chú thích, biên soạn, “Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng”, [Nguyễn Văn Tường (tác giả Kì Vĩ quận công thi tập)], Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, TS. Võ Xuân Đàn, GS. Đoàn Quang Hưng, Nguyễn Tôn Nhan, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm, khảo luận, phiên dịch, hiệu đính…, chưa xuất bản.

29. Nguyễn Văn Tường, “Kì Vĩ quận công thi tập”, 65 bài thơ chữ Hán, Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển dịch, giới thiệu [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị Khoa học lịch sử “Nhóm chủ chiến Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, 20.6.1996, ĐHSP. TP.HCM..

30. Phạm Văn Sơn, “Việt Nam cách mạng cận sử”, Sài Gòn, 1963.

31. Phan Bội Châu, “Những tác phẩm của Phan Bội Châu”, Chương Thâu dịch, Văn Tạo chủ biên, Hồ Song giới thiệu, Nxb. KHXH., 1982.

32. Phan Khoang, “Trung Quốc sử lược”, ấn quán Hồng Phát, bản in lần thứ 3, 1958.

33. Phan Khoang, “Việt Nam Pháp thuộc sử (1858 – 1945)”, Phủ QVK. ĐTVH. (Sài Gòn), bản in lần thứ hai, 1971.

34. Phan Trần Chúc, “Vua Hàm Nghi”, Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995.

35. Quốc sử quán triều Nguyễn, “Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883)”, Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (lược thuật), Ban Văn học thuộc Viện KHXH. TP. HCM. in ronéo, 1979; Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chỉnh lí, Nxb. Văn Học, 5.2003.

36. Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện, chính biên”, bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học, 4 tập, Nxb. Thuận Hóa, 1993.

37. Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên”, các tập từ 11 đến 38, bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., 1964 – 1978.

38. Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học, “Những trang Đại Nam thực lục về KVPCĐT. Nguyễn Văn Tường và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp (1858 – 1885)”, Trần Xuân An chọn lọc, chưa xuất bản.

39. Quốc sử quán triều Nguyễn (QSQTN.), “Quốc triều chính biên toát yếu”, bản dịch tiếng Việt của QSQTN., Nxb. Thuận Hóa, 1998.

40. Thái Vũ, “Nguyễn Văn Tường và vai trò của ông trong cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX”, tạp chí Cửa Việt số 13, tháng 4. 1992.

41. Tự Đức, “Tự Đức thánh chế văn tam tập”, quyển IX – XIV, tập 2, Bùi Tấn Niên, Trần Tuấn Khải phiên dịch, Tủ sách Cổ văn, UBDT. PQVK. ĐTVH. xb., Sài Gòn, 1973.

42. Tự Đức, “Thơ văn Tự Đức”, 3 tập, Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1996.

43. Trần Ngọc Thêm, “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trường ĐHTH. TP. HCM. xb.,1995.

44. Trần Tam Tỉnh, “Thập giá và lưỡi gươm”, Vương Đình Bích dịch từ nguyên tác tiếng Pháp, Nxb. Trẻ, 1988.

45. Trần Thị Kim Hoa, “Góp phần tìm hiểu vua Hiệp Hoà”, luận văn tốt nghiệp, khoá 1991 –1995, Khoa Sử ĐHSP. TP.HCM., tháng 4.1995.

46. Trần Trọng Kim, “Việt Nam sử lược”, bản in lần thứ 7, Nxb. Tân Việt, 1964.

47. Trần Văn Giàu, “Chống xâm lăng”, trọn bộ 3 tập, Nxb. TP.HCM. tái bản, 2001.

48. Trần Văn Giàu, “Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử”, Nxb. TP.HCM., 1993.

49. Trần Văn Giàu, “Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử”, Nxb. KHXH., 1975.

50. Trần Xuân An, “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”, truyện kí – khảo cứu lịch sử, hai tập I & II, 2002, hai tập III & IV, 2003; Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM., 2004.

51.Trần Xuân An, “Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp””, chưa xuất bản.

52. Tsuboi (Yoshiharu), “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, Nguyễn Đình Đầu và nhóm cộng tác viên dịch, Ban KHXH. Thành ủy TP. HCM. xb., 1990.

53. Viện Văn học (nhiều tác giả, GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên), “Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và thơ”, Nxb. KHXH., 1992.

54. Vụ Bảo tồn bảo tàng, “Niên biểu Việt Nam”, in lần thứ 4, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999.

(*) Về những sách báo tham khảo trên đây, người biên soạn xin cảm ơn các tác giả, soạn giả, và chỉ tiếp nhận những tư liệu, ý kiến xét thấy là đúng (có chú thích xuất xứ rất cụ thể), trên cơ sở lấy "Đại Nam thực lục chính biên" các kỉ IV, V, VI làm chuẩn cứ. Nói như vậy, có nghĩa là, về những ý tưởng không ghi xuất xứ, bản quyền những ý tưởng ấy không của ai khác, mà chính của người biên soạn (Trần Xuân An). Ở bình diện khác, cũng có những chỗ tôi ghi xuất xứ, nhưng chỉ để phê phán, đả phá ngay trong cuốn sách này.
Ngoài ra, trên đây, tôi cũng đã liệt kê một số cuốn sách khác mà tôi đã viết hoặc đã biên soạn. Qua đó, cũng như vậy, tôi đã trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận, có chỗ đành phải mạn phép đả phá trên tinh thần khoa học, dân chủ trong học thuật, và theo phương châm “học thuật là cuộc đua tiếp sức”.
Và có lẽ cũng cần nói thẳng: Những cuốn sách, bài nghiên cứu của các tác giả mà tôi đã liệt kê ở danh mục sách báo tham khảo bên trên, được các tác giả ấy viết theo nhiều quan điểm, khuynh hướng chính trị khác nhau và ảnh hưởng bởi những nguồn tư liệu không giống nhau (sách báo của một số tác giả Trung Hoa, Nhật, Pháp, Thiên Chúa giáo, Đàng Ngoài, maoism, kể cả “ấu trĩ tả khuynh”, phần lớn xuất hiện trước thập niên 50 hoặc 60 / XX …); trong đó, có khoảng mươi cuốn sách, bài đăng báo được viết bởi những tác giả còn thiếu tinh thần khoa học, có vấn đề trong phương pháp nghiên cứu sử học, thậm chí viết sử theo phương châm bá đạo "vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn", rất đáng phàn nàn, trách cứ.
Ngày xưa, Tự Đức, một hoàng đế phong kiến, vẫn còn "trông mong lời nói thẳng", huống gì những nhà nghiên cứu sử học ngày nay! Tôi nói thẳng thắn như thế với niềm hi vọng và tin tưởng rằng: Nhà nghiên cứu khoa học đích thực là nhà dân chủ chân chính
. TXA.


(**) Liệt kê theo nguyên tắc nghiên cứu khoa học: Khi viết về một đề tài nghiên cứu nào đó, người viết phải nắm vững lịch sử đề tài (đã có bao nhiêu người viết về đề tài ấy và họ đã viết như thế nào, tư liệu được sử dụng ra sao...). Đi đôi với yêu cầu liệt kê danh mục sách báo tham khảo này là yêu cầu phê phán những sai lạc và khẳng định những đóng góp có giá trị học thuật trong số sách báo đó.
Cũng cần khẳng định: Trong khoa học, chân lí và sự thật không nhất thiết thuộc về số đông. Nhưng ở vào diện số ít có khoa bảng hoặc có công trình nghiên cứu riêng, nếu sai lầm thì vẫn là sai lầm. Vấn đề quan trọng có tính quyết định là nhân chứng, vật chứng có giá trị sử học cao (tư liệu gốc được giám định). Vấn đề không kém phần quan trọng có tính quyết định khác là cơ chế dân chủ đích thực, chân chính, luôn luôn tôn trọng, bảo lưu ý kiến cá nhân, và quyết nghị có tính hội đồng (tập thể), trong lĩnh vực sử học. Dĩ nhiên, không chỉ nhân chứng, vật chứng lịch sử, mà cả ý kiến cá nhân lẫn quyết nghị hội đồng về vấn đề sử học, tất cả đều phải được phổ biến công khai. Nhiều nhà khoa học chân chính đã tâm đắc điều đó; và họ không thể không lưu tâm, tự nhắc nhở đến tiêu chí nhận định sử học: đạo lí dân tộc và công lí nhân loại về độc lập, tự do của Tổ quốc và dân tộc.
Xin thưa thêm đôi điều như vậy dưới bảng liệt kê danh mục sách tham khảo này. TXA.



KÍNH MỜI ĐỌC NHỮNG ĐOẠN TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC PHẦN THUỘC ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT NÀY TRONG BỘ SÁCH TRUYỆN - SỬ KÍ - KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ "PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)", NXB. VĂN NGHỆ TP. HCM., 2004.:
http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/

NGƯỜI BIÊN SOẠN XIN ĐÓN NHẬN MỌI Ý KIẾN PHÊ BÌNH, GÓP Ý.
Trân trọng và cảm ơn.
TXA.

Địa chỉ người biên soạn:

TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu tạp phẩm Phan Huyên)
Phường 3, Tân Bình
Thành phố Hồ Chí Minh.

ĐT: [08].8453955
& 0908 803 908
Điện thư: tranxuanan_vn@yahoo.com




HẾT

Xếp chữ xong chương chin
(cũng là chương cuối của cuốn sách )
,
vào lúc 20 giờ 17 phút,
ngày thứ ba (thứ tư cũ) 22-02 HB6 ( 2006 )
[25 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.

Trần Xuân An


_____________________

11 g 10' & 14 g 29', ngày 23-02 HB6;
7 g 05', ngày 24-02 HB6, tại TP.HCM., Việt Nam.

21.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 10)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”

(tiếp theo)
(Tệp 10)
(chương tám / phần 3 / trọn chương)


++ Ngày Ất mão, 23 tháng 5 âl., Ất dậu (05-7-1885). “Tôn Thất Thuyết kèm vua, vâng mệnh tam cung; ngự giá chạy ra Miền Bắc” (nguyên văn câu tiểu đề) (*), do cuộc Kinh đô quật khởi thất bại.
---- (*) Sự phân công cho Tôn Thất Thuyết (Cơ mật viện tâu xin, được tam cung, gồm 3 vị: thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị [Trung phi], hoàng thái phi Nguyễn thị [Học phi], chuẩn y): Tôn Thất Thuyết “vâng mệnh” .
Xin chú thích thêm về kết cấu của từng mục trong ĐNTL.CB: Trong từng tháng, có nhiều sự kiện, sự việc cần chép. Mỗi sự vụ được chép thành một mục. Mỗi mục gồm có câu tiểu đề (đề mục) và phần thuyết (nội dung chi tiết). Mục nhỏ nhất, ngắn nhất chỉ gồm một câu vừa là tiểu đề, vừa là phần thuyết. Mục lớn có thêm vài câu tiểu đề, đôi khi có cả kết đề. Câu tiểu đề của mục kinh đô quật khởi là “Ngày Ất mão, kinh thành có việc…”. Đặc biệt, có thể xem các trang 219 – 251 (chép việc từ ngày 23-5 âl. đến 04-8 âl., Ất dậu [1885]) là một cụm mục, gồm các tình tiết liên quan chặt chẽ với nhau. ----

1. Trước đó, Cô Ra Xi (De Courcy) đến Sứ quán, xin dâng quốc thư, làm lễ chầu yết. Y yêu cầu Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết sang Sứ quán Pháp (bên kia sông Hương) để hội thương trước.
2. Tôn Thất Thuyết thác bệnh, không đi. Nhưng Nguyễn Văn Tường và Phạm Thật Duật không thể tránh việc được, do đó, cùng đi, qua gặp Cô Ra Xi (De Courcy). Y cố mời cho bằng được Tôn Thất Thuyết, không chịu việc Tôn Thất Thuyết cáo bệnh! Tôn Thất Thuyết biết có việc không hay xảy ra, nên cho quân Phấn Nghĩa bảo vệ mình, đồng thời ra nghiêm lệnh cho quân lính các doanh vệ khác cùng chuẩn bị khí giới. Nguyễn Văn Tường và đình thần cho rằng đó cũng là thanh thế để đấu tranh với Pháp, buộc Pháp phải chùn tay và để tăng cường phòng bị.
3. “Cuộc Nghĩa cử” : Kinh đô quật khởi, khuya 22 rạng ngày 23 tháng 5 âl., Ất dậu (khuya 04 rạng ngày 05-07-1885) nổ ra.
~~ Một đạo quân do tham biện Sơn phòng Quảng Trị Tôn Thất Lệ (em ruột Tôn Thất Thuyết) chỉ huy, đi đò sang sông Hương vào lúc nửa đêm, phối hợp với quân của thủy sư đề đốc Lưu Cung (*) và hiệp lí thủy sư Cao Hữu Sung (**), đánh úp Sứ quán Pháp.
---- (*) Xem: ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 199.
(**) Xem: ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 222. ----

~~ Một đạo khác, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy, đánh úp Trấn Bình đài (Mang Cá).
~~ Nguyễn Văn Tường không biết gì hết (*).
---- (*) Để rõ vấn đề, xin xem tiếp phần sau (tập 36, sđd. và tập 37, sđd., tr. 33, 35…). Xin lưu ý: một trong những nguyên tắc chép sử biên niên là việc đến đâu, ghi đến đó, “xem hồi sau sẽ rõ”. ----
~~ Đầu canh tư (00 giờ 45 phút), bước sang ngày 23 âl., Tôn Thất Thuyết cho nổ súng vào Trấn Bình đài. Lúc đó, Nguyễn Văn Tường đang ngủ ở công đường Bộ Lại. Tham tri Bộ Binh Hoàng Hữu Thường và một số quan chức liền gõ cửa, báo tin. Nguyễn Văn Tường nói: “Nguy rồi!” , tỏ vẻ lo sợ, bèn vội vàng gửi tâu qua các viên quan binh canh gác, xin mở cửa Hiển Nhân (Hiển Nhơn), cửa Đại Cung. Nguyễn Văn Tường chạy vào Tả vu, nhưng không biết làm thế nào (*).
---- (*) Để rõ vấn đề, xin xem tiếp phần sau (tập 36, sđd. và tập 37, sđd., tr. 33, 35…). ----
~~ Về phía Pháp, Pháp đóng chặt cửa Trấn Bình đài, lẻn nấp đợi sáng, nhưng vẫn từ từ cho nổ vài tiếng súng lớn (ra hiệu cho Sứ quán là chúng đang bị tấn công?).
~~ Tôn Thất Thuyết ở vườn sau Đại nội điều khiển. Trần Xuân Soạn cho người báo với Tôn Thất Thuyết rằng, quân Pháp đã bị giết sạch, không còn tiếng súng phản công của Pháp; bởi nghe tiếng súng lớn, Trần Xuân Soạn ngỡ là từ con sông phía sau Trấn Bình đài, Pháp bắn vào (không ngờ quân Pháp ở Trấn Bình đài bắn, trong khi chúng vẫn núp kín, chưa phản công).
~~ Tôn Thất Thuyết sai vần súng lớn lên bờ thành, chĩa qua Sứ quán Pháp, bắn. Sứ quan Pháp bị vỡ hai chỗ. Đạo quân Tôn Thất Lệ cũng bắn cháy các nhà tranh gần Sứ quán.
~~ Tới lúc sáng rõ, Pháp mới phản công. Chúng tập hợp súng lớn trên xe máy, đặt ở Trấn Bình đài, ở bệ cột buồm tàu chiến ngoài sông phía sau, bắn vào Đại nội. Quân ta bị thương, chết khá nhiều. Hoàng thành, cung thành bị xuyên vỡ. Tiếp đến, từng toán lính Pháp xông ra, cầm súng tay ngang ngược bắn phá.
~~ Hai đạo quân ta bị vỡ. Trong thành, rối loạn.
~~ Lúc đầu, trống canh tư (khoảng 00 giờ 45 phút), nghe Hoàng Hữu Thường báo tin, Nguyễn Văn Tườngxin mở hai cửa Hiển Nhân (Nhơn), Đại Cung, chạy vào Tả vu. “Một lát” (nguyên văn), ông lại tâu xin mở cửa Hòa Bình, chạy ra vườn sau, đến chỗ Tôn Thất Thuyết điều quân khiển tướng. Có lẽ khá lâu sau, khi nhìn thấy tình hình cuộc đánh úp chắc phải bị thất bại, nên Nguyễn Văn Tường lại vào Tả vu, tâu xin vua Hàm Nghi và tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Khiêm Hoàng hậu Vũ thị [Trung phi], hoàng thái phi Nguyễn thị [Học phi]) xuất hành ra khỏi Đại nội và kinh thành. “Vội vã” (nguyên văn), Nguyễn Văn Tường chỉ kịp lấy mấy quả ấn: ngự tiền, văn lí mật sát, và ấn kiềm, cùng vàng bạc. Nguyễn Văn Tường sử dụng Hữu quân đô thống Hồ Văn Hiển phò xe vua và xe tam cung. Giờ thìn (7 – 9 giờ sáng), ngự giá (xe vua, xe tam cung) mới ra khỏi cửa Hữu (cửa Tây Nam). Tức là lúc Pháp bắt đầu phản công (khoảng 5 giờ sáng, vào mùa hè, trời đã sáng rõ) đến lúc vua Hàm Nghi và tam cung ra khỏi của Hữu của kinh thành, đã qua 3 tiếng đồng hồ. “[Nguyễn] Văn Tường tâu xin vua và xa giá tam cung đi ra khiêm lăng [Lăng Tự Đức] tạm thời lánh loạn lạc” (nguyên văn).
~~ “[Nguyễn] Văn Tường vâng ý chỉ của Từ Dũ thái hoàng thái hậu và [ông] lưu lại giảng “hòa”; tức thì đi tắt [không có nghi trượng đại thần] vào nhà thờ đạo Kim Long” (nguyên văn).
---- Xin lưu ý: Nguyễn Văn Tường “vâng ý chỉ” (nguyên văn). Như vậy, cả Nguyễn Văn Tường lẫn Tôn Thất Thuyết đều “vâng mệnh” [sđd., tr. 219], “vâng ý chỉ” [sđd., tr. 221], nghĩa là đã có một sự bàn bạc, phân công, chỉ đạo thống nhất. ----
~~ Tôn Thất Thuyết ra sau, gặp xe vua, xe tam cung, bèn đưa ngự giá đến trường thi ở La Chử. Sau đó, kèm xe đi ra phía bắc. Phạm Thận Duật, Trương Văn Đễ (thự tham tri), Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Thuyết đều đi theo xa giá (chỉ còn khoảng 100 viên lính đi theo; phần lớn, tản về quê).
~~ Trên đường đi, vào giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa), ngự giá và đoàn hộ tống đến Văn Xá. Ở tại đây, Tôn Thất Thuyết “kèm vâng mệnh vua” (nguyên văn), ra thông báo về tình hình đêm qua, hô hào thiên hạ cần vương (giúp vua); thông báo được truyền gửi khắp Nam, Bắc.
~~ 24-5 âl. (ngày bính thìn), Ất dậu, tức là ngày 06-7-1885, vua Hàm Nghi và tam cung đến Quảng Trị, nghỉ ở hành cung tại tỉnh.
~~ Thự Hậu quân chưởng phủ Nguyễn Hanh, thự thống chế Ngô Tất Ninh, thự tả quân Đinh Tử Lượng, tham tri Bộ Công Tôn Thất Phan, biện lí Trần Khánh Tiến, thủy sư hiệp lí Cao Hữu Sung, phủ doãn Nguyễn Đình Dương, toản tu Phạm Phú Lâm nối tiếp nhau đến hành tại (nơi vua và tam cung đang ở).
~~ Bấy giờ, vua đã đi, Pháp lên kì đài treo cờ “tam tài”. Súng vẫn nổ ầm vang. Dân và quan quân xéo lên nhau tìm cửa để chạy. Người chết, bị thương rất nhiều.
~~ Cùng lúc, Pháp đốt cháy Bộ Lại, Bộ Binh (nơi ở và làm việc của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết). Ở các dinh trại, khói lửa thuốc súng bốc lên xông trời, hai ngày đêm vẫn chưa tắt. Pháp bố trí lính canh giữ kho tàng, cửa thành…
~~ Ngày phát gạo, Pháp thuê dân bốc vác. Bọn hôi của gặp thời cơ, lấy đồ đạc ở các dinh thự, nhà vắng người.
~~ Pháp cho sửa sang các trại để chiếm đóng, cho nhặt xác người để chôn hoặc hỏa thiêu.
~~ Đô thành: nhân dân nơm nớp, sợ, chạy.
4. Hôm ấy, sau khi nhận ý chỉ Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường vào nhà thờ Thiên Chúa giáo ở làng Kim Long (cách kinh thành Huế khoảng một vài dặm ta [cỡ 1 km]). Ông gặp giám mục Lộc (Caspard, Caspar) (*). Rồi cùng giám mục này bàn luận về nỗi khổ của quân và dân, của vua và tam cung với Cô Ra Xi (De Courcy); và Nguyễn Văn Tường lại đề nghị giảng “hòa”. Cô Ra Xi (De Courcy) nghe theo lời đề nghị ấy, dặn Nguyễn Văn Tường phải rước vua, tam cung về lại Huế.
---- (*) Lộc là tên tiếng Việt của Caspar (trong “Việt Nam sử lược”, Trần Trọng Kim viết là Caspard), cũng như tên tiếng Việt của Gauthier là Ngô Gia Hậu…. ----
5. Chiều hôm ấy, 23-5 âl., Ất dậu (05-7-1885), Nguyễn Văn Tường bàn với Pháp: Ông vào kinh thành, tạm đóng ở công đường Bộ Hộ.
(sđd., tr. 219 – 222).
Trên đây là diễn biến cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (từ khuya 22 đến chiều 23-5 âl., Ất dậu [05-7-1885]).
Xin xem phụ lục trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.
++ Ngày 24-5 âl., Ất dậu (06-7-1885), Cô Ra Xi (De Courcy) và Nguyễn Văn Tường hội ý, yết thị cho mọi người dân biết: Pháp và Đại Nam đã “hòa hảo” (nguyên văn) như cũ. Sau đó, cho rằng ở công đường Bộ Hộ không tiện, Nguyễn Văn Tường bàn với Cô Ra Xi (De Courcy), ông sẽ ra đóng ở Nha Thương bạc (phía ngoài cửa Thượng Tứ) để làm việc. Cùng ngày, Nguyễn Văn Tường đem tờ tâu về hiện trạng giảng “hòa” giao cho đội lính giao liên phi ngựa trạm ra Quảng Trị dâng tâu, đồng thời thông báo cho cả nước biết (theo yêu cầu của Cô Ra Xi [De Courcy]).
(sđd., tr. 222).
++ Thời điểm đó, nhân dân kinh đô Huế còn nhốn nháo, sợ hãi. Bọn cướp bóc, hôi của được dịp quấy nhiễu ở phố, ở làng. Nguyễn Văn Tường ra lệnh nghiêm khẩn, cho lính đi tuần tra, ngăn cấm. Ở huyện Hương Trà, có vài tên cướp bị bắt. Chúng bị quan huyện cho lính chém ngay. Bọn cướp các nơi đều xẹp.
(sđd., tr. 222 – 223).
++ Nguyễn Văn Tường cho thị lang Bộ Binh Phạm Hữu Dụng đến hành tại ở Quảng Trị, ( “đem hiện tình bàn với Tôn Thất Thuyết” [nguyên văn]). Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng, không cho gặp vua Hàm Nghi và tam cung. Ông cũng không tâu lại với bốn vị ấy. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng về báo với Nguyễn Văn Tường:
1. Phải nên “đoàn kết” (nguyên văn) với Pháp.
2. Pháp không được lấn ép như trước. Nếu Pháp đồng ý, thì mới ra Quảng Trị rước vua Hàm Nghi và tam cung về.
Tôn Thất Thuyết lúc này đã nắm rõ những gì Nguyễn Văn Tường với Pháp đã tiến hành ở Huế qua Phạm Hữu Dụng. Phạm Hữu Dụng vốn sợ uy Tôn Thất Thuyết, cũng không dám trực tiếp tâu với vua Hàm Nghi và tam cung; liền về Huế ngay.
(sđd., tr. 223).
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.
++ Ngày 27-5 âl., Ất dậu (09-7-1885), Tôn Thất Thuyết tâu: Đưa vua Hàm Nghi lên Sơn phòng Quảng Trị (Tân Sở, Cam Lộ). Tam cung lần lữa, rồi không đi. Khoảng giờ sửu (01 – 03 giờ khuya về sáng), Tôn Thất Thuyết bí mật cùng với Hồ Văn Hiển, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ, đưa vua lên Sơn phòng. Tuần phủ Quảng Trị Trương Quang Đản tiếp tục đến hành tại. Các quan khác không biết gì cả; sáng ra mới rõ việc.
(sđd., tr. 223).
++ Đến Tân Sở (Cam Lộ), Tôn Thất Thuyết cho Phấn Nghĩa quân về gọi Trương Văn Đễ, Ngô Tất Ninh lên Sơn phòng.
(sđd., tr. 223).
++ Tôn Thất Phan lại về Huế với một số người.
(sđd., tr. 223).
++ Phủ thần Quảng Trị bàn: Nguyễn Hanh, Đinh Tử Lượng, Tôn Thất Lương Thành nên ở lại Quảng Trị.
(sđd., tr. 223).
++ Trước tình hình ấy (người lên Sơn phòng, người về Huế, kẻ ở lại Quảng Trị), lòng người dân, quân lính càng hoang mang, ngờ sợ, không biết theo về đâu.
(sđd., tr. 223).
++ Ở Huế, Nguyễn Văn Tường giảng “hòa”, ra hiệu lệnh ngăn cấm trộm cướp, nên khá yên tĩnh. Tuy nhiên, khắp Nam, Bắc, côn đồ tụ tập, cướp bóc nổi lên, và quân Cần vương khởi nghĩa (đã có kế hoạch từ trước); lương – giáo vốn thù nhau, nay tàn sát nhau, nơi nào cũng có.
(sđd., tr. 223).
++ Cô Ra Xi (De Courcy) yêu cầu Nguyễn Văn Tường chiêu tập quan lại, thôi tuyển mộ lính, ra lệnh cho Nam, Bắc cùng yên, trấn dẹp trộm cướp (hôi của)… Y hẹn cho Nguyễn Văn Tường trong thời hạn 2 tháng phải ổn định hoàn toàn tình hình khắp nước và trong triều đình.
(sđd., tr. 223).
++ Trước ngày mùng 01 tháng 6 âl. vài ngày (*), Tôn Thất Thuyết có gửi tờ tâu về hành cung Quảng Trị, xin tam cung (Từ Dũ, Vũ thị, Nguyễn thị) tiếp tục lên Sơn phòng.
(sđd., tr. 224).
---- (*) Tháng 5 âl., Ất dậu (1885) này, chỉ có 29 ngày; đó là tháng thiếu. “Vài ngày” tức là một hoặc hai ngày.

Trong sự kiện Kinh đô quật khởi (hoặc gọi đúng từ ngữ trong ĐNTL.CB. là “Cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5” [tập 36, sđd., tr. 244: cuối trang], hay thường quen gọi một cách bi thảm là “kinh đô thất thủ”), có một số điểm cần lưu ý như sau:
1. Tôn Thất Thuyết cáo bệnh không qua Sứ quán với Nguyễn Văn Tường để hội thương với Cô Ra Xi (De Courcy). Không thể tránh việc, Nguyễn Văn Tường đi với Phạm Thận Duật (không có nghi trượng đại thần [đi tắt]). (sđd., tr. 219 – 220).
2. Tôn Thất Thuyết biết trước có việc không hay sẽ xảy ra, do Cô Ra Xi (De Courcy) gây nên. Do đó, Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho Phấn Nghĩa quân bảo vệ mình, lại nghiêm khẩn đốc thúc quân lính chuẩn bị khí giới. Nguyễn Văn Tường với đình thần cho rằng như thế là cũng tạo nên thanh thế để đấu tranh với Pháp, buộc Pháp phải chùn tay và để tăng cường việc phòng bị kinh đô. Nguyễn Văn Tường biết rõ âm mưu khích tướng nhằm gây biến của Cô Ra Xi (De Courcy) . (sđd., tr. 220).
3. Đầu trống canh tư (khoảng 01 giờ nửa khuya về sáng) ngày 23-5 âl., Ất dậu, Nguyễn Văn Tường tâu xin vua cho mở cửa Hiển Nhân (bên trái Hoàng thành, tức là Đại nội), qua quan binh canh gác. Qua cửa Hiển Nhân, ông lại tâu xin, cũng qua thủ tục tâu báo của quan binh canh gác, mở cửa Đại cung (của tiền Tử cấm thành – nơi vua và tam cung ở –; Tả vu điện Cần Chánh cũng tọa lạc trong Tử cấm thành), để vào trong đó. “Một lát” (nguyên văn), sau khi đã vào Tả vu, Nguyễn Văn Tường thấy cần phải tâu xin mở của Hòa Bình, tức là cửa hậu Tử cấm thành, để ra vườn sau, nơi Tôn Thất Thuyết đang điều khiển trận đánh úp Sứ quán và Trấn Bình đài. Vườn sau này ở trong Đại nội (Hoàng thành) nhưng ở phía sau Tử cấm thành (*). (sđd., tr. 220 – 221).
---- (*) Thành trì kinh đô Huế có 3 lớp thành. Ngoài cùng, rộng nhất là kinh thành; lớp thành giữa được gọi là hoàng thành; lớp trong cùng, hẹp nhất là Tử cấm thành.
Khu vực Lục bộ ở phía bên trái hoàng thành. Các quan đại thần, theo quy chế, phải thường trú tại nơi làm việc, gọi là “ở thự”. ----
4. Khi đã ra vườn sau, Nguyễn Văn Tường đã gặp Tôn Thất Thuyết. Thời gian từ lúc vào Tả vu (chỉ “một lát”, đã ra ngay chỗ Tôn Thất Thuyết điều khiển quân binh) đến lúc tâu xin vua Hàm Nghi và tam cung xuất hành trong sự “vội vã” vì nhìn thấy cuộc quật khởi đã thất bại rồi, là khá lâu: Từ 01 giờ sáng đến khoảng 6 giờ sáng (5 tiếng đồng hồ). Bởi lẽ, lúc sáng rõ (tức là thời khắc vào khoảng 05 giờ sáng, trời mùa hè), Pháp mới phản công; đến giờ thìn (từ 7 đến 9 giờ sáng), khi quân ta hầu như đã hoàn toàn bại trận, nhà vua và tam cung mới ra khỏi cửa Tây Nam (cửa Hữu). (sđd., tr. 220 – 221).
5. Cả Tôn Thất Thuyết lẫn Nguyễn Văn Tường đều “vâng mệnh tam cung”, “vâng ý chỉ Từ Dũ thái hoàng thái hậu”. Người thì kèm vua, đưa vua ra phía bắc. Người thì ở lại Huế để lo việc giảng “hòa”. Theo lệ thường, các việc trọng đại đều phải xin ý chỉ tam cung (trong đó, đặc biệt, người quyết định là Từ Dũ), mặc dù kế hoạch do Cơ mật viện (quan trọng và quyết định nhất là hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết) vạch ra và Cơ mật viện đã tâu xin nhà vua chuẩn y. Sở dĩ phải xin ý chỉ tam cung là vì vua Hàm Nghi còn nhỏ tuổi (15 tuổi âl.; sinh năm Tân mùi [1871]). (sđd., tr. 219 và tr. 221, tr. 230…).
6 Việc Nguyễn Văn Tường ở lại giảng “hòa” tại Huế với Cô Ra Xi (De Courcy), có một tác dụng thấy rõ là cản hậu, hoãn binh. Quân Pháp không thể truy kích trong tình huống như vậy. Xét về mặt tâm lí chính trị, giặc Pháp rất sợ thất nhân tâm, lòng dân thêm căm phẫn. Giám mục Lộc (Csapard) lại sợ giáo dân Thiên Chúa giáo và các giáo đường Thiên Chúa giáo sẽ bị dân lương (đại đa số tuyệt đối) tiêu diệt sạch, nếu Pháp không chấp nhận giảng “hòa” và truy kích, nếu Pháp giết Nguyễn Văn Tường ngay lúc đó. Mạo hiểm với tinh thần dũng cảm, có tác dụng tích cực, ấy là việc Nguyễn Văn Tường ở lại Huế.
Đó là những điểm cần lưu ý. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn, cần đọc kĩ phần sau (tháng âl., tháng 7 âl., Ất dậu [1885], tập 36, sđd.) và cũng ở ĐNTL.CB., tập 37, sđd.. Nguyên tắc viết sử theo lối biên niên (cũng như tiểu thuyết chương hồi cổ điển) là việc đến đâu, ghi đến đó, “xin xem hồi sau sẽ rõ”. Vả lại, đây là bộ sử biên soạn và in trong thời nước ta hoàn toàn bị thực dân Pháp và bộ phận tả đạo trong Thiên Chúa giáo thống trị (thời Thành Thái và Duy Tân); do đó, Quốc sử quán phải vừa viết, vừa “lách”, “lách” ý giữa các chữ và các dòng chữ. Điều cần nói ngay, đó là tinh thần quật khởi và sự thất bại bi tráng không được phản ánh đúng như sự thật lịch sử.


+++ Tháng sáu âl..
++ Mùng một âl. (12-7-1885), vua Hàm Nghi ở Tân Sơn (Sơn phòng Quảng Trị). Phấn Nghĩa quân bị Pháp treo giải thưởng cho ai bắt được. Tất cả quan lính trong đoàn quân ấy đều rủ nhau đến Tân Sở.
(sđd., tr. 224).
++ Trương Quang Đản và Tôn Thất Lương Thành bàn luận, xin tam cung nên về lại Huế. Cả hai liền thông tư cho Nguyễn Văn Tường để ông tiến hành thương thuyết. Nguyễn Văn Tường nhận được tin. Ngay tức thời, ông gửi văn thư đến Tham Bô (De Champeaux), để Tham Bô (De Champeaux) báo cáo lại cho Cô Ra Xi (De Courcy): đề nghị Cô Ra Xi (De Courcy) cứ “thỏa nghĩ” [nghĩ kĩ] (nguyên văn), và hãy trả lời, để Nguyễn Văn Tường lại tâu gửi tam cung.
(sđd., tr. 224).
++ Mùng 2 tháng 6 âl., Ất dậu (13-7-1885), Nguyễn Văn Tường đệ gửi tập tâu ra Quảng Trị, mời tam cung về Khiêm cung (lăng Tự Đức) cho yên lòng dân, lại ủy nhiệm cho biện lí Trương Như Cương và Tôn Thất Niêm (Nam?) đón rước.
(sđd., tr. 224).
Xin lưu ý: Tập tâu Nguyễn Văn Tường đệ ra Quảng Trị, có viết niên hiệu Hàm Nghi, nhưng lại phải đóng mượn ấn quan phòng của Sứ quán Pháp, tức là Pháp đã “duyệt” tập tâu này. Do đó, trong nội dung tập tâu, có một vài ý Nguyễn Văn Tường đã linh hoạt viết (như Tôn Thất Thuyết lừa dối Nguyễn Văn Tường, không cho ông biết về cuộc quật khởi), để trước hết, đối phó với Pháp.
Tập tâu đã bị lược nhưng vẫn đủ ý (*):
~~ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm phụ chính đại thần, nay lại hỏng việc! Xin nhận tội nặng.
~~ Nguyễn Văn Tường cho rằng Nguyễn Văn Tường đã bị Tôn Thất Thuyết lừa dối (ông không biết việc Tôn Thất Thuyết đánh úp Sứ quán, Trấn Bình đài; hoặc đúng hơn, không phải với mục đích đối phó với Pháp, mà chỉ viết một cách kín đáo: ông không ngờ Tôn Thất Thuyết không chịu cho đưa Hàm Nghi về như kế hoạch đã bàn) .
~~ Tam cung (Từ Dũ, Vũ thị, Nguyễn thị) già cả, vua Hàm Nghi nhỏ tuổi, không đủ sức chịu đựng gian khổ ở chốn rừng sâu nước độc (nơi mà Nguyễn Văn Tường đã trải qua gần 12 năm làm tri huyện, bang biện; chưa kể 5 năm tiễu phỉ ở núi rừng biên giới phía Bắc) .
~~ Hơn nữa, không thể giao kinh thành, lương miếu cho giặc Pháp và bọn côn đồ (chúng có thể tôn lập lên bất kì tên vua bù nhìn nào, mà nguy cơ nhất là Pháp sẽ tôn lập một cô ả hậu duệ nhà Lê hiện chúng còn nuôi dưỡng ở thành Hà Nội) .
~~ Do đó, Nguyễn Văn Tường phải “tuân theo sắc văn” (nguyên văn) của vua Hàm Nghi, tam cung mà ở lại Huế để lo việc giảng “hòa”, cứu vãn tình thế và kinh thành; bởi lẽ khác, Nguyễn Văn Tường tự “nguyện cùng với xã tắc non sông mà mất còn, không dám lìa bỏ” (nguyên văn) (Tôn Thất Thuyết sẽ sang Trung Hoa) .
~~ Nay nhận được tờ thông tư của Trương Quang Đản, Nguyễn Văn Tường đã tiến hành thương thuyết và xin rước tam cung về Huế.
~~ Chưa thể về ngay kinh thành, tam cung chỉ nên về trú tạm tại lăng Tự Đức (vì trong thành còn có kẻ ngầm muốn nổ súng).
~~ Trình bày các khoản thực phẩm thực dân Pháp yêu cầu chi cấp cho quân lính Pháp tại kinh thành Huế.
(sđd., tr. 224 – 225).
Dẫu sao, đó cũng chỉ là tập tâu linh hoạt, như một thủ thuật chính trị trong tình huống lịch sử – cụ thể, để đối phó với Pháp (nếu hiểu là Nguyễn Văn Tường giả vờ không biết việc Tôn Thất Thuyết tiến hành “cuộc nghĩa cử” [nguyên văn ở một văn bản khác trong ĐNTL.CB.]).
++ Cùng ngày, 02-6 âl., Ất dậu (13-7-1885), Tôn Thất Thuyết “kèm vua, ra lệnh dụ thiên hạ cần vương” (nguyên văn) (*).
(sđd., tr. 225).
---- (*) Chắc hẳn các ý tưởng trong bản “Lệnh dụ thiên hạ cần vương” này là của Cơ mật viện trước khi bùng nổ cuộc kinh đô quật khởi. ----
Văn kiện lịch sử “Lệnh dụ thiên hạ cần vương” này chỉ được Quốc sử quán đề cập đến với nhan đề như trên, cùng với ngày, tháng, năm ban dụ, ngoài ra không có toàn văn văn kiện ấy.
Đây chính là Dụ Cần vương duy nhất và chính thức. Đó là dụ, không phải hịch, không phải chiếu. Dụ có tính chất mệnh lệnh, buộc thần dân, quan chức phải tuân theo. Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc đã xác định tên gọi thể văn của văn kiện này đúng như nguyên văn trong ĐNTL.CB. (lệnh dụ).
Trong Dụ Cần vương đó, vua Hàm Nghi (vị vua trẻ được nhân danh) đã phân tích tình thế lịch sử với ba sách lược cổ điển: chiến, hòa, thủ. Cả ba đối sách đều không thể thực hiện. Cho nên, phải “quyền” (nguyên văn), tức là quyền nghi, tùy cơ ứng biến, linh hoạt. Nội dung chữ “quyền” (quyền nghi) được làm rõ trong bản dụ vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) gửi Nguyễn Văn Tường cùng một ngày ban Dụ Cần vương này (02-6, Ất dậu [13-7-1885]) và cả trong bản dụ gửi hoàng tộc sau đó (07-6 âl., Ất dậu [18-7-1885).

++ Cũng trong ngày 02-6 âl., Ất dậu (13-7-1885), vua Hàm Nghi gửi cho Nguyễn Văn Tường một bản dụ (*) như đã nói trên.
---- (*) Lại nói thêm cho rõ về thể dụ: thường thấy là đình thần, Cơ mật viện tâu xin (đề xuất) một vấn đề gì đó, nếu vua nhất trí thì ra dụ. ----
Nội dung bản dụ này như sau:
~~ Cô Ra Xi (De Courcy) lấn ép, nên bất đắc dĩ phải làm “cái kế bỏ thành” (nguyên văn).
~~ Nguyễn Văn Tường có nhiệm vụ ở lại mà thương thuyết. “Kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước, lo [cho] dân làm căn bản” (nguyên văn).
~~ Cùng với Pháp bàn luận cho thỏa đáng. Nếu được vậy, Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết sẽ về triều. Nếu không, Tôn Thất Thuyết cũng không tranh thắng bại với Pháp, và sẽ chọn “đất lánh ở” (tị địa) (nguyên văn), ủy nhiệm tất cả cho Nguyễn Văn Tường (không lập vua khác).
~~ Nếu Pháp càng truy bức và bức hiếp triều đình (Hàm Nghi ở rừng, tam cung ở Huế) và bức hiếp nhân dân, Hàm Nghi sẽ ra lệnh cho quan chức Bắc Kỳ bỏ ấn lại cho sĩ phu “trung nghĩa”, “có tài thao lược” (nguyên văn), để lên rừng kháng chiến, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân (theo mật ước với sĩ phu từ trước)…
~~ Nếu Nguyễn Văn Tường muốn tâu đối (đối đáp), hãy gửi theo đường trạm (*) của triều đình.
(sđd., tr. 225 – 226) (**).
---- (*) Đường trạm bấy giờ còn duy trì được (tất nhiên là đường trạm bí mật).
(**) Xin lưu ý: Hai văn kiện cực kì quan trọng là “Dụ Nguyễn Văn Tường” này và “Dụ hoàng tộc” (xem phần tiếp theo) đều được “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản dịch tiếng Việt của chính Quốc sử quán triều Nguyễn) ghi nhận (QTTY., Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 558).
Xem phụ lục trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp. ----

++ Ngày 03-6 âl., Ất dậu (14-7-1885), tam cung khởi hành về Huế.
(sđd., tr. 225).
++ Vào ngày 05-6 âl., Ất dậu (16-7-1885), án sát Quảng Trị Tôn Thất Nam (Niêm?) lên Sơn phòng bàn việc với Tôn Thất Thuyết.
(sđd., tr. 229).
Xin lưu ý: Đây là một chi tiết nói lên quan hệ giữa “kẻ ở, người đi” .
++ Ngày 05-6 âl., Ất dậu (16-7-1885), tam cung về đến Huế.
(sđd., tr. 225).
++ Ngày 07-6 âl. (18-7-1885), Tôn Thất Thuyết lại cùng vua Hàm Nghi ra đạo dụ cho hoàng tộc (dụ Thọ Xuân vương Miên Định, phụ chính thân thần Hoài Đức công Miên Lâm và hoàng phiên, công chúa [*]):
~~ Nước ta bị Pháp ức hiếp. Trong tình thế hiện thời, dẫu uất ức, vẫn phải cưỡng lòng nén dạ. Nhưng Pháp ngày càng lộng hành, ngang ngược, khiến nước ta không còn chút quốc thể.
~~ Nay đã có Nguyễn Văn Tường ở lại Huế để giảng thuyết. Nguyễn Văn Tường quả là một “huân thần”, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được” (nguyên văn). Nỗi khổ tâm của huân thần Nguyễn Văn Tường rất lớn (ý nguyên văn).
~~ Mọi việc hãy cùng Nguyễn Văn Tường bàn bạc. Hàm Nghi đã gửi dụ riêng cho Nguyễn Văn Tường. Có việc gì thì hãy gửi tâu, chờ nhà vua quyết định. Hẹn gặp lại. Mong sẽ được như thường. Cũng đã dụ cho Nguyễn Văn Tường bàn với Pháp cho thỏa đáng.
(sđd., tr. 226 – 228).
Dụ này cũng được gửi theo đường trạm (tất nhiên là đường trạm bí mật của triều đình).
Xem phụ lục trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp.

++ Cũng cùng ngày 07-6 âl., Ất dậu (18-7-1885), Tôn Thất Thuyết lại kèm vua Hàm Nghi ra đến Sơn phòng Thủy Ba, Quảng Bình.
(sđd., tr. 229).
++ Cũng vẫn ngày ấy, 07-6 âl., Ất dậu (18-7-1885), tam cung ra chỉ dụ và chuẩn cho người ra đến Tân Sở rước vua. Đây là đạo dụ thứ nhất của tam cung, sau ngày kinh đô quật khởi và bị thất thủ. Dụ này là do đề xuất của đình thần, Tôn nhân phủ (đa số lúc này là chủ “hòa”), là lệnh dụ nội bộ, không phải thông tri cho toàn dân:
~~ Không thể bỏ trống ngôi lớn. Tân Sở là đất vua Hàm Nghi không tiện ở lâu (lam chướng).
~~ “Hòa” nghị đã định, nhưng vua chưa về, lòng dân không biết hướng về đâu.
~~ Trách Tôn Thất Thuyết ép rước xe vua, giữ ý kiến riêng. Triều thần ai cũng biết rõ…
~~ Đình thần đã bàn với giặc Pháp và Pháp đã thuận theo: Tất cả đều như trước.
Đạo dụ của tam cung cũng gửi cho Phạm Thận Duật, Trương Văn Đễ, Hồ Văn Hiển, Ngô Tất Ninh, Trần Xuân Soạn và lãnh binh Hà Tĩnh Phan Văn Mỹ (tỉnh Hà Tĩnh phái đi đón vua, Phan Văn Mỹ vào Tân Sở và ở luôn tại đó).
Tôn Thất Thuyết kèm vua không rời. Sắc dụ tam cung khi đem đến, bị ngăn trở bởi Tôn Thất Thuyết.
(sđd., tr. 228 – 229).
++ Trương Văn Đễ nhân khi bị phát bệnh kết hạch (*), đã “lẻn” (nguyên văn) (đi bí mật) về tỉnh Quảng Trị. Sau đó, Trương Văn Đễ nhận lệnh dụ cùng Đinh Tử Lượng lên rước xe vua; Ngô Tất Ninh nhân dịp ấy, từ Tân Sở, cùng về kinh đô Huế.
(sđd., tr. 229).
(xem tiếp: sđd., tr. 234).
---- (*) Đối chiếu với “Đại Nam liệt truyện”, tập 3, sđd., tr. 246. ----
++ Ý chỉ tam cung: Miên Định làm nhiếp chính; mọi việc đều phải tâu lên tam cung (Từ Dũ, Vũ thị, Nguyễn thị), xin ý chỉ mới được tiến hành. Nếu vua Hàm Nghi về, Miên Định lại làm phụ chính thân thần.
(sđd., tr. 229).
++ Ngày 09-6 âl., Ất dậu (20-7-1885), Hàm Nghi ra Bảo Đài, Quảng Trị. Đêm đến, vua ngủ tại Thủy Ba, Quảng Bình. Lần đi này, Tôn Thất Thuyết cho gánh hết vàng bạc trữ ở Tân Sở để đem theo. Lúc đi, vua khóc. Quan binh cùng đi cũng khóc theo.
(sđd., tr. 229).
++ Từ Dũ lại ra dụ cho các địa phương để lo rước vua về và “trị tội Tôn Thất Thuyết chuyên quyền làm bậy” (!!!) (nguyên văn):
~~ Tôn Thất Thuyết khởi binh, làm cuộc kinh đô quật khởi, là tự ý riêng, không tâu vua, tam cung, không bàn với đình thần.
~~ Nguyễn Văn Tường đưa vua và tam cung đi lánh nạn. Từ Dũ dặn thầm với Nguyễn Văn TườngNguyễn Văn Tường phải ở lại, bàn với Pháp để Pháp nghe lời, sớm tan quân (không bắn phá, không tiếp tục tấn công và không truy kích).
~~ Không ngờ Tôn Thất Thuyết lại thất bại, còn dám rước vua đi mất (thật ra đều theo lệnh tam cung [đã bàn bạc, phân công trước] . Xem lại câu tiểu đề [sđd., tr. 219]: “vâng mệnh” ).
~~ Nguyễn Văn Tường bất đắc dĩ phải tuân sắc văn về lại kinh thành; nay đã giảng hòa xong. Tam cung cũng đã trở về Huế. Miên Định làm nhiếp chính, Nguyễn Văn Tường vẫn sung Cơ mật viện đại thần, lục bộ đều như cũ.
~~ Lên án Tôn Thất Thuyết ép vua, ra lệnh cho thiên hạ cần vương. Tôn Thất Thuyết là gian thần (!!!).
Kèm với đạo dụ được niêm yết khắp nơi này là lệnh dụ bắt Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật và gia đình hai người, tịch thu hết của cải của họ (Thật ra, gia quyến Tôn Thất Thuyết đã lên rừng, tam cung đã biết rõ, nhưng vẫn viết dụ như thế, để đối phó với giặc Pháp).
(sđd., tr. 229 – 231).
++ Ngày 10-6 âl., Ất dậu (21-7-1885), lễ Tiểu tường.
(sđd., tr. 231 – 232).
++ Ngày 11-6 âl. (22-7-1885), vua Hàm Nghi về lại phủ cũ ở Cam Lộ (Quảng Trị). Nguyên do: ngày 09-6 âl., Ất dậu (20-7-1885) trước đó, khi đến Bảo Đài, nghe tin Pháp đến cửa Nhật Lệ, Tôn Thất Thuyết liền chuyển vua về Sơn phòng, theo thượng đạo vào lại Cam Lộ
(sđd., tr. 232).
++ Ngày 15-6 âl., Ất dậu (26-7-1885), theo thượng đạo, vua Hàm nghi đến đồn Trấn Lao (đường thượng đạo trước núi Mai Lĩnh).
(sđd., tr. 232).
++ Ngày 16-6 âl., Ất dậu (27-7-1885), lễ Đại tường. Nguyễn Văn Tường ra lệnh cho Phủ Thừa Thiên lo liệu phẩm vật.
(sđd., tr. 232).
++ Những người có chức trách tế tự lo sửa sang màn khám (trang thờ) các điện thờ. Nguyễn Văn Tường cùng Miên Định, Phủ Tôn nhân thương thuyết với quan Pháp đóng ở các nơi ấy, để cho người đến xem xét, cấm chỉ lính Pháp ra vào nơi thờ cúng.
(sđd., tr. 232).
++ Từ Dũ ra dụ hỏi Nguyễn Văn Tường: Hiện trạng Thừa Thiên như thế nào? Các địa phương Nam – Bắc ra sao? Ai gặp nạn, ai đã được chôn cất? “Hòa” nghị xong chưa? Lại dụ phải trị tội những ai yếu kém; nên dùng những người kì cựu để cùng làm việc (như Trần Đình Túc…).
(sđd., tr. 232 – 233).
++ Nguyễn Văn Tường tâu trả lời lên Từ Dũ:
~~ Nguyễn Văn Tường lược thuật lại những sự việc từ ngày 23-5 âl., từ khi Nguyễn Văn Tường ở lại Huế.
~~ Tin tức Nam – Bắc không có việc gì khác, duy chỉ một vụ Lê Trung Đình “nổi loạn” (nguyên văn), rồi cũng yên tĩnh.
---- (*) Xin lưu ý: Nguyễn Văn Tường, theo nguyên văn bản dịch của Viện Sử học, ông đã dùng từ “duy” [“duy có Lê Trung Đình…”]. “Duy” có nghĩa là chỉ một mà thôi. Nguyễn Văn Tường xem vụ Lê Trung Đình trong nhiều cuộc khởi nghĩa Cần vương chân chính khác cùng lúc, là cuộc “nổi loạn” duy nhất, bởi Lê Trung Đình tôn phù Tuy Lý vương Miên Trinh, một nhà thơ chủ “hòa” thời Hiệp Hòa, từng câu kết với Pháp, đang bị đày vào Quảng Ngãi) (xem thêm: tập 36, sđd., tr. 238).
~~ Kẻ bị thương đã về quê chữa chạy; kẻ chết đã được chôn cất hoặc bị hỏa thiêu.
~~ Chưa thể thưởng phạt vì hiệu lệnh chưa thống nhất (nhiều người theo lệnh vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết; nhiều người theo lệnh Từ Dũ).
~~ Trần Đình Túc già yếu. Vũ Trọng Bình, Hoàng Tá Viêm thì bọn Pháp ngờ ghét.
(sđd., tr. 233 – 234).
++ Ngày 17-6 âl., Ất dậu (28-7-1885), Nguyễn Hữu Độ theo lệnh Pháp về kinh đô Huế. Ngày 19-6 âl., Ất dậu (30-7-1885), Nguyễn Hữu Độ lại ra Bắc. Từ Hà Nội, Sinh Bích (Silvestre) gửi thư cho Phan Đình Bình, bảo Phan Đình Bình thay Nguyễn Hữu Độ ở Hà Nội. Nguyễn Văn Tường tâu lên Từ Dũ: Nguyễn Văn Tường đã bàn với Pháp; Tham Bô (De Champeaux) nói rằng Nguyễn Hữu Độ chỉ về kinh đô vài ngày, rồi sẽ sung làm kinh lược sứ Bắc Kỳ; Phan Đình Bình sẽ vào kinh nhận chức.
(sđd., tr. 234).
(xem thêm: sđd., tr. 236 – 237).
Lúc này, Nguyễn Hữu Độ đã lộ rõ không cần che giấu bản chất cơ hội, “xem gió chuyển buồm”, làm tay sai cho giặc Pháp xâm lược. Y được Pháp cất nhắc lên chức vụ trọng yếu.
++ Ngày 20-6 âl., Ất dậu (31-7-1885), Hàm Nghi đến sách Bờ Cạn. Đinh Tử Lượng đi rước vua, bấy giờ đã theo kịp; Trương Văn Đễ đi đường khác, nên không gặp được xa giá. Khi trông thấy xe vua, quân Đinh Tử Lượng không dám bắn súng; bất chợt bị quân Trần Xuân Soạn chắn ngang, họ bèn tản đi. Lúc này, quân Tôn Thất Thuyết có cả quân Hà Tĩnh (do Phan Văn Mỹ chỉ huy) và quân Ninh Bình (500 viên, Phạm Thận Duật mộ sẵn trước đó, trong thời gian chuẩn bị kế hoạch Cần vương [1883 – 1885]).
(sđd., tr. 234).
Xin lưu ý: không có giao chiến. Quân Đinh Tử Lượng cũng như quân Trương Văn Đễ chỉ đi tìm vua Hàm Nghi một cách “chiếu lệ” mà thôi.
++ Trương Quang Đản gửi thông tư xin Bộ Binh (?) ra lệnh cho phái viên đi hiểu thị. Theo ý chỉ Từ Dũ: Nguyễn Thành Ý (nghỉ hưu, phục chức) đi Thanh Hóa, Tôn Thất Phan đi Hà Tĩnh, Vũ Khoa đi Nghệ An. Đó là 3 khâm sai của triều đình, phối hợp với các phái viên.
(sđd., tr. 234 – 235).
Đó là các phái viên Pháp?!? Bộ Binh lúc này đã thuộc quyền của Tham Bô (De Champeaux) (thượng thư Bộ Binh của triều đình Đại Nam!!!).
++ Khoảng thời gian sau ngày 20-6 âl., trước ngày 25-6 âl., Ất dậu (31-7 đến 05-8-1885), Tôn Thất Đính (cha của Tôn Thất Thuyết), 74 tuổi, bị bắt. “Triều” nghị: Tử hình, giảm xuống tội lưu, an trí tại Côn Đảo, đổi theo họ mẹ, thành Lê Đính.
(sđd., tr. 235).
Mọi việc đều do giặc Pháp quyết định, ngay cả việc lưu đày (“an trí”!) Tôn Thất Đính ở Côn Đảo. Côn Đảo đã thành thuộc địa của thực dân Pháp; chỉ có Pháp mới đày được đến đó. Triều đình chỉ đày đến nơi xa nhất là Bình Thuận và Nam Quan (Xem: Tôn Thất Nguyễn Mạnh Hào, Kỉ yếu Hội nghị khoa học với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, ĐHSP. TP.HCM., 20-9-1996, tr. 91).
++ Lệnh dụ (*): Tịch thu gia sản Hồ Văn Hiển, Trần Xuân Soạn, Phan Văn Mỹ (Nguyễn Văn Tường đã cùng Trương Quang Đản 4 lần viết thư cho Hồ Văn Hiển để Hồ Văn Hiển làm “nội ứng”, chỉ với mục đích duy nhất là rước vua Hàm Nghi về Huế; Hồ Văn Hiển không nghe lời). Ngoài ra, Từ Dũ (và Miên Định) còn ban lệnh dụ (*) bắt tất cả gia thuộc 3 viên ấy giao giam đợi xét.
(sđd., tr. 235).
---- (*) Đây phải là lệnh dụ của Từ Dũ (và giám quốc nhiếp chính Miên Định), bởi Hồ Văn Hiển, Phan Văn Mỹ, Trần Xuân Soạn đều là quan to. Vả lại, không ai có quyền ra dụ, ngoài vua. Trong trường hợp này, người có quyền ấy là thái hoàng thái hậu Từ Dũ. ----
++ Lại lệnh dụ của Từ Dũ (và Miên Định): Truy bắt Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn; và treo giải thưởng cho ai bắt được hoặc chém được. Còn ai như Hồ Văn Hiển, chỉ đi theo xa giá, mà biết làm nội ứng, rước xe vua về, sẽ được miễn án và còn được thưởng.
(sđd., tr. 235 – 236).
++ Đình thần chuyển dời thư tịch sau khi kiểm tra lại, và ra phủ cũ của Gia Hưng vương (vốn đang bỏ trống) để làm việc (25-6 âl., Ất dậu [05-8-1885]). Nguyễn Văn Tường và Cơ mật viện vẫn làm việc (*) ở Thương bạc (ngoài cửa Thượng Tứ).
(sđd., tr. 236).
---- (*) Thật ra, lúc này, Nguyễn Văn Tường đang bị quản thúc tại công đường bởi một toán quân viễn chinh Pháp, do một tên đại úy Pháp [Schmitz] cai quản. ----
++ Cũng ngày ấy, 25-6 âl., Ất dậu (05-8-1885), Cô Ra Xi (De Courcy) và Tham Bô (De Champeaux) bàn với Nguyễn Văn Tường, Miên Định về việc thăng chức hàm cho Nguyễn Hữu Độ (*).
Thực dân Pháp muốn triều đình thăng cho Nguyễn hữu Độ điện hàm (Vũ Hiển điện đại học sĩ), Viện chức (Cơ mật viện đại thần) và vẫn làm việc ở Bắc Kỳ ( chức vụ kinh lược sứ). Pháp muốn thành lập Nha Kinh lược Bắc Kỳ, với quyền hạn lớn và rộng, toàn quyền bổ nhiệm tổng đốc, tuần vũ, bố chánh, án sát, đến cả tri huyện, tri phủ, mặc dù vẫn phải xin triều đình Huế chuẩn y. Nguyễn Văn Tường và cả Miên Định bảo rằng việc thăng hàm bổ chức ấy chỉ là “tạm thời” (nguyên văn). Nguyễn Văn Tường lại đòi hỏi Pháp và Nguyễn Hữu Độ phải “trải bày lí do” (nguyên văn). Lúc phải phụng dụ của Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường ngầm ý mỉa mai Nguyễn Hữu Độ, rằng y chỉ nịnh hót Pháp mà được ngôi vị cao (phó vương tại Bắc Kỳ), chứ không phải do bản ý và mệnh lệnh của triều đình (nói rõ ra là Độ chỉ là một kẻ bán nước cầu vinh!).
(sđd., tr. 236 – 237).
Xin nói rõ hơn:
Trước đấy ít hôm (từ 17-6 âl. đến 20-6 âl., Ất dậu [28-7 – 31-7-1885]), Nguyễn Hữu Độ vào Huế. Y muốn bàn việc với Nguyễn Văn Tường, nhưng y gièm pha Nguyễn Văn Tường trước (nếu Nguyễn Văn Tường không cùng bàn việc với Miên Định [một người lớn tuổi trong hoàng tộc – như tộc trưởng –, nhưng tiếc thay lại chủ “hòa”], thì đừng đến nơi thương thảo)! (xem đoạn trên, sđd. , tr, 236 – 237). Nguyễn Văn Tường đã biết Nguyễn Hữu Độ từ lâu bộ lộ ra là một tên “nghe theo lời bọn con buôn lão luyện mưu lợi [tức là bọn Pháp (Đồ Phổ Nghĩa, Jean Dupuis)]” (nhận xét của đình thần, 1879), Độ là một kẻ tự sùng bái, lại cơ hội, nịnh hót Pháp, rất đáng ghét. Nay giao cho y làm kinh lược sứ Bắc Kỳ, có nghĩa là giao đứt Bắc Kỳ cho giặc Pháp! Pháp sẽ bố trí hoàn toàn người của chúng (bọn tả đạo Thiên Chúa giáo, bọn tay sai, cơ hội, nói chung là bọn Việt gian) giữ các chức vụ ở Bắc Kỳ. Do đó, Nguyễn Văn Tường khi bàn chuyện với Nguyễn Hữu Độ, đã thiếu hòa khí (nguyên văn: “khiếm hòa”), rất gay gắt, căng thẳng. Ngay cả khi vâng theo dụ của Từ Dũ (Từ Dũ phải theo lệnh Pháp), Nguyễn Văn Tường cũng ngầm chỉ trích y chỉ là tên nịnh hót Pháp, thứ bán nước cầu vinh. Ý tưởng phê phán (lí: nội dung) và ngôn từ bổ nhiệm (bì: hình thức) khác nhau như mùa thu với mùa xuân (“bì lí xuân thu”). Do đó, Nguyễn Hữu Độ càng căm thù Nguyễn Văn Tường.
Xin nhớ lại: Có một thời cách thời điểm này khoảng 10 năm, tại Nha Thương bạc, Nguyễn Văn Tường đã đối xử với Nguyễn Hữu Độ không tệ (tháng 11 âl., Ất hợi [1875]; ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 258), trước khi cùng đình thần hiểu bản chất của y (tháng 8 âl., Kỉ mão [1879]; ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 264).
Xem phụ lục trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. (sđd., tr. 236 – 237) ở cuối tệp.

++ Nghe truyền ngôn: Tri huyện Nguyễn Hữu Tạo ở Quảng Ngãi dự định khởi binh đi giết giáo dân, họp bàn kế hoạch vào ngày 25-6 âl., Ất dậu (06-81885).
(sđd., tr. 239).
++ Tỉnh thần Quảng Nam, Phú Yên, Hà Tĩnh, Hải dương… ủy phái người về kinh kính thăm sức khỏe tam cung và kính dâng phẩm vật.
(sđd., tr. 237).

Trong tháng sáu này, có một số điểm xin lưu ý:
1. Tập tâu Nguyễn Văn Tường gửi tam cung ở Quảng Trị có đóng ấn của Sứ quán Pháp. Như vậy, Pháp đã duyệt (đã đọc). Đó chỉ là tập tâu đối phó, không đúng hoàn toàn sự thật, không thể hiện hoàn tòan đúng tư tưởng, ý nghĩ Nguyễn Văn Tường, nhất là trong mối quan hệ đồng sự, đồng chí với Tôn Thất Thuyết ở “cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay” (nguyên văn bản dụ Từ Dũ do Nguyễn Nhược thị Bích viết).
2. Xin lưu ý đến phương thức vừa đánh vừa đàm. Không phải ngẫu nhiên mà Dụ Cần vương (quyết chiến) và Dụ Nguyễn Văn Tường (đàm phán với Pháp) được phát đi và gửi về cùng một ngày (cùng đề ngày 02-6 âl., Ất dậu [13-7-1885]) . Dụ gửi cho hoàng tộc (Thọ Xuân vương và hoàng phiên, công chúa) được chuyển về Huế sau đó 5 ngày, cũng làm rõ hơn các ý tưởng của Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết. Cần thấy rõ là dụ gửi hoàng tộc được viết khi Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đã họp bàn với án sát Quảng Trị Tôn Thất Nam (Niêm?) vào ngày 05-6 âl., Ất dậu (16-7-1885). Chắc chắn Tôn Thất Nam đã được Nguyễn Văn Tường ủy nhiệm lên Sơn phòng để họp bàn.
Kết hợp với lời Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng về báo cáo lại với Nguyễn Văn Tường (25 – 26-5 âl., Ất dậu [7 – 8-7-1885]) với 3 đạo dụ nói trên (dụ Cần vương, dụ Nguyễn Văn Tường và dụ hoàng tộc) sẽ đi đến một kết luận: cuộc Kinh đô quật khởi và việc phát động phong trào Cần vương chỉ nhằm đến các mục tiêu có giới hạn nhất định. Nói gọn hơn, đó là mục tiêu có hạn. Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết cùng các thành viên nhóm chủ chiến tại triều đình Huế, trước và sau ngày 23-5 âl., Ất dậu (05-7-1885), với thực lực nước ta, trước tình hình quốc tế bấy giờ, không hề ảo tưởng là kháng chiến để toàn thắng, giành lại được toàn vẹn non sông từ Nam Quan đến mũi Cà Mau, đuổi sạch bóng quân thù là thực dân Pháp và bọn gián điệp “tả đạo” Thiên Chúa giáo.
Để đạt được mục tiêu cho dù chỉ là mục tiêu có hạn, không còn phương thức nào khác là vừa đánh (Tôn Thất Thuyết đảm nhận đấu tranh vũ trang, tương tự như Trương Định ở Nam Kỳ với quy mô, tầm vóc lớn hơn) và vừa đàm (Nguyễn Văn Tường đảm nhận sứ mệnh đấu tranh ngoại giao, chính trị). Các mục tiêu có hạn ấy, đó là buộc Pháp phải thực hiện đúng “hòa” ước Giáp thân 1884 [Ba Đức Na (Patenôtre) – Phạm Thận Duật], và hơn nữa, phải sửa đổi “hòa” ước giáp thân 1884 ấy (xem lại: 2 đạo dụ gửi Nguyễn Văn Tường, gửi hoàng tộc và quốc thư gửi Pháp đầu tháng 5 âl., Ất dậu 1885). Trong những mục tiêu có hạn ấy còn có yêu cầu buộc Pháp phải hủy bỏ phụ ước 6 điểm mà Cô Ra Xi (De Courcy) buộc triều đình Đại Nam chấp nhận sau cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05-7-1885). Và còn có thể nói, mục tiêu có hạn lớn nhất đúng ra là “hòa” ước Giáp tuất 1874, trong điều kiện quốc tế, thực lực nước ta bấy giờ (*).
---- (*) Xin liên hệ đến hiệp định sơ bộ 06-3-1946, tạm ước Moutet / Fontainebleau tháng 9-1946, hiệp định Genève 20-7-1954, hiệp định Paris 27-01-1973, Ngày Thống nhất [ngày toàn thắng] 30-4-1975 và hiệp ước quân sự Việt – Xô 1979, quyết định rút quân sau khi hoàn tất công cuộc giải phóng Campuchia 1989. Cuộc chiến tranh 131 năm (1858 – 1989). ----
3. Các ý chỉ, lời dụ của Từ Dũ từ sau khi Từ Dũ đã về Huế buông rèm nghe chính sự là do Nguyễn Nhược Thị Bích viết thay cho Từ Dũ (xem: “Đại Nam liệt truyện”, tập 3, sđd., tr. 60 và tr. 77 – 78: tiểu sử Từ Dũ và tiểu sử Lễ tần Nguyễn Ngược Thị Bích (*)). Trong việc thăng chức hàm cho Nguyễn Hữu Độ (làm kinh lược sứ Bắc Kỳ; thành lập Nha Kinh lược ngoài ấy), Nguyễn Văn Tường (Bộ Lại) phụng dụ của Từ Dũ , vẫn không nhất trí với sự thăng bổ ấy (vì như thế là mất đứt Bắc Kỳ).
---- (*) Xem ĐNLT., sđd. số tr.đd.: có viết rõ việc Nguyễn Nhược Thị Bích chấp bút theo khẩu dụ của Từ Dũ. Người biên soạn (Trần Xuân An) xin nhấn mạnh chi tiết này, bởi có nhiều cuốn sách được viết bởi những người thiếu tinh thần khảo cứu cẩn trọng, cho rằng những bản dụ ấy là do Nguyễn Văn Tường viết! ----
4. Miên Định (Thọ Xuân vương) trở thành nhiếp chính giám quốc (thay mặt vua) (**). Mọi việc từ đấy đều phải xin ý chỉ của Từ Dũ mới có thể thi hành. Do đó, Nguyễn Văn Tường không còn giữ vai trò quyết định. Thực chất, thực dân Pháp (De Courcy, De Champeaux) quyết định mọi việc, mà cả Từ Dũ lẫn Miên Định đều chịu sự điều khiển của chúng. Tham Bô (De Champeaux) là thượng thư Bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần của triều đình nhà Nguyễn!
---- (*) Chính Nguyễn Văn Tường tâu đề nghị Miên Định làm nhiếp chính giám quốc (ĐNTL.CB., tập 37, tr. 23). ----
5. Việc Nguyễn Văn Tường và Trương Quang Đản có 4 lần viết thư cho Hồ Văn Hiển, để Hồ Văn Hiển làm “nội ứng”, chỉ với mục đích duy nhất là đưa Hàm Nghi về Huế, có 2 cách lí giải:
~~ a). Lãnh đạo trực tiếp phong trào Cần vương chỉ cần có Tôn Thất Thuyết hoặc Phan Đình Phùng cùng các sĩ phu là đủ rồi, không cần có vua Hàm Nghi ở rừng. Về lại Huế, vua Hàm Nghi sẽ lãnh đạo chung bằng mật dụ. Một nước không thể có 2 vua (vì Pháp sẽ lập Đồng Khánh [Ưng Kỹ]!)
~~ b). Chỉ là một “hư chiêu” để đối phó với Pháp và phe chủ “hòa” trong triều đình (Từ Dũ, Miên Định…).
6. Nguyễn Văn Tường cho Lê Trung Đình là nổi loạn vì Lê Trung Đình tôn phù Tuy Lý vương Miên Định (một nhà thơ chủ “hòa”, thân Pháp, câu kết với Pháp, mưu giết Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết trước đây, bấy giờ đang bị đày ở Quảng Ngãi).
7. Nguyễn Văn Tường vẫn khẳng khái và kiên định, tiếp tục đấu tranh với Cô Ra Xi (De Courcy), Tham Bô (De Champeaux) và tay sai của chúng là Nguyễn Hữu Độ, cho dù chúng đang thắng thế.


+++ Tháng bảy âl..
++ Mùng 1 âl., Ất dậu (10-8-1885), đình việc làm lễ Thu hưởng (đồ thờ mất nhiều, trong và sau cuộc kinh đô quật khởi, bởi bọn hôi của).
(sđd., tr. 237).
++ Thực dân Pháp đóng giữ cửa biển Đà Nẵng (150 tên ở đồn Điện Hải).
(sđd., tr. 237).
++ Đề đốc Sơn phòng Quảng Ngãi – Bình Định Đinh Hội: thăng đô phống phủ đô thống chưởng phủ sự; hồng lô tự thiếu khanh quyền tiễu phủ sứ Nguyễn Thân (*): thăng Binh bộ thị lang. Cả hai vẫn giữ chức cũ, lo đánh dẹp cuộc khởi binh quờ quạng của Lê Trung Đình.
---- (*) Nguyễn Thân trước đây, lúc thực hiện kế hoạch Cần vương (1883 – 1885) vẫn thuộc lực lượng do Nhóm Chủ chiến (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết) lãnh đạo. Về sau, y đã “quay dáo, trở cờ” (tập 37, sđd., tr. 67). ----
Cuộc khởi binh và đánh dẹp ấy diễn biến như sau:
~~ Bố chánh sứ Lê Duy Thụy, quyền án sát Nguyễn Văn Dụ kiểm điểm hương binh Quảng Ngãi, lo việc đóng giữ.
~~ Chánh quản tả vệ hương binh huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) Lê Trung Đình (cử nhân), phó quản hữu vệ Nguyễn Tự Tân, thuộc Vũ (Võ) hội (?), và thương biện Nguyễn Văn Hoành chỉ huy 3 đạo gồm 3 nghìn quân hương binh (dân quân các làng). Diễn biến cuộc khởi binh:
--x- Trước ngày 02-7 âl., Ất dậu (11-8-1885), nghĩa binh tấn công thành của tỉnh. Hiệp quản Trần Tu, thành thủ úy Nguyễn Côn làm nội ứng, mở cửa thành. Quân khởi binh bắt trói bố chánh, án sát.
--x- Tôn phò Tuy Lý vương Miên Trinh làm phụ chính quốc vương (*). Tuy Lý vương Miên Trinh từ chối.
---- (*) Tôn phù một kẻ câu kết với Pháp làm phụ chính quốc vương! Như vậy, đâu phải là hưởng ứng Dụ Cần vương của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết. ----
~~ Nguyễn Thân báo với tổng đốc Bình – Phú Lê Thận. Lê Thận ủy nhiệm cho án sát Bình Định Lê Duy Cung (Nguyễn Duy Cung? [*]) và Đinh Hội cùng mang 900 biền binh đi tiễu trừ.
---- [*] Theo “Quốc triều hương khoa lục”, sđd., tr. 339: Nguyễn Duy Cung (đỗ cử nhân năm Mậu thìn 1868), sau đó tử tiết. ----
~~ Ngày 05-7 âl., Ất dậu (14-8-1885), quân tỉnh Quảng Ngãi thu phục tỉnh thành, ấn triện bố án, đồng thời bắt sống được Lê Trung Đình, giết Nguyễn Tự Tân và 5 người khác. Ngay sau đó, quân của tỉnh bàn với Đỗ Đệ, Nguyễn Trọng Biện (Nguyễn Hiệp) (hưu trí), cựu tuần phủ Nam – Ngãi Đoàn Nhượng, Vũ Duy Tĩnh (Vũ Văn Thanh) (hưu trí), bàn với tuần phủ Nam – Ngãi đương nhiệm Nguyễn Ngoạn: chém Lê Trung Đình; chém rồi mới báo cáo cho lang trung Bộ Hộ Hồ Ngọc Hào biết!
(sđd., tr. 237 – 239).
++ Tri phủ Nguyễn Hữu Tạo mới chuẩn bị khởi binh để đi đánh dẹp các cơ sở Thiên Chúa giáo ở Bình Định và giáo dân các nơi đó; tiến hành họp bàn kế hoạch vào ngày 25-6 âl., Ất dậu (06-8-1885). Nay cũng bị Nguyễn Thân bắt giết tại nhà, sau ngày 05-7 âl., Ất dậu (14-8-1885).
(sđd., tr. 239).
++ Vụ việc hoàn tất, Cơ mật viện (có De Champeaux làm “quan đầu triều”!) thưởng Đinh Hội, Nguyễn Thân… Lê Duy Thụy, Nguyễn Văn Dụ nhận lỗi, về kinh chờ chỉ. Võ (Vũ) Duy Tĩnh: bố chính; Hồ Ngọc Hào: án sát. Lẽ ra triều đình lấy Trần Văn Dư làm bố chính (phiên ti) và Nguyễn Đình Tựu làm sơn phòng sứ, nhưng Trần Văn Dư (Trần Dư) cáo bệnh, nên phải lấy Võ Duy Tĩnh làm bố chánh.
(sđd., tr. 239 – 240).
Đó là tình hình rối ren (hầu như địch – ta không phân biệt được) tại Quảng Ngãi (sđd., tr. 237 – 240). Trong lịch sử nói chung, tình trạng vàng thau lẫn lộn, chân giả khôn lường, vẫn thường xảy ra ở các bước ngoặt lịch sử tương tự như thế này.
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.

++ Hồng lô tự thiếu khanh sung làm Sơn phòng sứ Hà Tĩnh Nguyễn Chính: thụ tả tham tri Bộ Hình lãnh thượng thư (rước vua Hàm Nghi về Huế xong, sẽ về Huế nhận chức).
(sđd., tr. 240).
++ Ý chỉ Từ Dũ: Miên Trinh, Miên Duyện (Triệu), Miên Tăng, con cái Hiệp Hòa, con cái Hồng Hưu được tha án cũ, cho về kinh đô ở. Các công ấy tự xét về con cháu, cuối cùng chỉ cho 1, 2 người theo họ về Huế.
(sđd., tr. 240).
Có lẽ cho các hoàng thân này về kinh, vì sợ bọn cơ hội tôn phò các “vị” làm chiêu bài như trường hợp Tuy Lý vương (Lê Trung Đình, mới 23 tuổi, chỉ quờ quạng, không phải cơ hội)?
++ Quyền tuần phủ Nghệ An Lương Quy Chính bị bệnh, nghỉ, về quê.
(sđd., tr. 240).
++ Thị độc học sĩ ở quê (không tại chức) Đặng Hữu Phổ chống việc Phủ Thừa Thiên bắt lính (tuyển mộ lính [sđd., tr. 223]), bị chém đem rao.
(sđd., tr. 240 – 241).
(xem thêm: tập 37, sđd., tr. 311; “Đại Nam liệt truyện”, tập 3, sđd., tr. 369 – 370; “Quốc triều hương khoa lục” , sđd., số thứ tự 3155, tr. 442).
++ Phạm Thận Duật về lại Quảng Trị (không còn ở tại Sơn phòng), bị Pháp bắt được, giam ở Nha Thương bạc (nơi Nguyễn Văn Tường đang bị Pháp quản thúc). Sau đó, Pháp ép xuống tàu, đày vào Gia Định. Lúc này vào khoảng trung tuần tháng 7 âl., (# 24-8-1885).
(sđd., tr. 241).
++ Vụ Bình Định (xảy ra từ tháng 6 âl., Ất dậu):
~~ Thượng thư Bộ Công Chu (Châu) Đình Kế, thự hữu thị lang Bộ Hộ Hồ Lệ: chánh, phó khâm sai đại thần, đi Bình Định để hiểu thị, ngăn dẹp.
~~ Thân hào tỉnh Bình Định hưởng ứng Dụ Cần vương (hơn 10.000 quân), vây tỉnh thành, bắt được tổng đốc Lê Thận (*), lại dự định đem quân đánh Pháp ở cửa Thi Nại (**).
---- (*) Lê Thận lại bị Pháp ngờ ghét (tập 37, sđd., tr. 52).
(**) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 241 – 242, không viết người lãnh đạo có tên họ là gì; ở tập 37, sđd., tr. 79 lại chỉ rõ: nguyên tổng đốc Bình – Phú Đào Doãn Địch cùng Bùi Điền, lí trưởng Đề, Vũ Hóa (đề đốc về hưu), cử nhân Tuấn, tú tài Lý, tú tài Tạo, tú tài Tiềm, trang trưởng người Khách (Hoa) tên Kiều, sĩ nhân Phùng Đại… Trong một số tư liệu, bị nhầm về từ “Đào công”; Đào công chính là Đào Doãn Địch, chứ không phải là Đào Tấn [Đào Tiến]. ----

~~ Tham Bô (De Champeaux) bàn: Phái khâm sai tham tri Bộ Binh Hoàng Hữu Thường đi tàu thủy Pháp chạy vào Bình Định. Đường biển bị quân Cần vương bắn ra dữ dội, tàu không cập bến được (?).
~~ Tham Bô (De Champeaux) lại bàn: Phái lãnh bố chính sứ Quảng Nam Bùi Tiến Tiên (nên án sát Hà Thúc Quán: quyền sung bố chánh; Nguyễn Duy Hiệu làm án sát), vì thị lang Bộ Lễ Ngô Trọng Tố (vốn là bố chánh Bình Định) không đi được đến nơi, đường dịch lộ Quảng Ngãi bị nghẽn!
~~ Thự thống chế Ngô Tất Ninh cùng Bùi Tiến Tiên: chánh, phó khâm sai, với 700 quân Nam – Ngãi, vào Bình Định. Đường đi vẫn bị nghẽn!
~~ Khi quan quân do Bộ Binh của Tham Bô (De Champeaux) (!!!) chưa đến Bình Định được thì tổng đốc Lê Thận đã báo cáo về kinh rằng: Lê Thận đã họp Văn thân (sĩ phu) tỉnh Bình Định để hiểu thị; Văn thân đã nghe lời, tản về; Lê Thận xin “rộng tha” (nguyên văn) cho họ (*). Do đó, chỉ có Chu (Châu) Đình Kế, Hồ Lệ vào Bình Định khi “vụ Bình Định” đã lắng xuống.
---- (*) Như vậy, tình hình Bình Định đã yên tĩnh mặc dù không có sự “dẹp loạn” nào. Và lạ thay, chính người bị quân Cần vương bắt sống là tổng đốc Lê Thận lại xin rộng tha cho quân Cần vương. Nhưng thật ra cũng chẳng có gì lạ, vì Lê Thận cũng là một vị quan trung nghĩa như sĩ dân Cần vương. Một số tư liệu của các cố đạo và thực dân Pháp đã viết rõ về điều này (quan chức và sĩ dân mật kết); xin xem: “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi (05-7-1885) của Trần Xuân An. ----
++ Thông báo cho Văn thân (sĩ phu và dân lương) cùng giám mục, linh mục đến cửa biển Thi Nại, nghe đô thống Ba Duy Đam (Prudhomme) và khâm sai của triều đình hiểu thị vấn đề lương – giáo. Nội dung:
~~1). Tha hết các lỗi “sát tả” và đánh giết dân lương (còn được gọi là “bình dân”).
~~2). Từ nay, nếu còn tái diễn sự tàn sát lẫn nhau, quân Pháp và quân triều đình sẽ đánh dẹp, bất kể lương dân hay giáo dân.
(sđd., tr. 241 – 242).
Đó là tình hình Bình Định.
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.

++ Sau đó, thân hào, sĩ phu Phú Yên toan khởi nghĩa. Chuẩn cho thân nhân đi kêu gọi, hiểu dụ để ngăn ngừa.
(sđd., tr. 242).
++ Văn thân Quảng Nam khởi nghĩa, nên Bùi Tiến Tiên, Ngô Tất Ninh ở lại Quảng Nam.
(sđd., tr. 243).
++ Quảng Trị: nộp một cỗ xe, hai con ngựa và các đồ dùng vua Hàm Nghi bỏ lại tại Tân Sở (nộp ở Khiêm cung).
(sđd., tr. 243).
++ Thống chế thự đô thống tả quân Đinh Tử Lượng và tham tri Trương Văn Đễ chết. Đinh Tử Lượng trước đây ra Quảng Trị nhưng không cùng Tôn Thất Thuyết lên Tân Sở. Gần đây, vâng mệnh khâm cấp đi đón rước vua Hàm Nghi, cùng lần với Trương Văn Đễ (theo 2 đường khác nhau). Khi về tới Quảng Bình, Đinh Tử Lượng ốm, và đến nay, ông đã chết. Trương Văn Đễ về lại Quảng Trị, cũng ốm, và cũng đã chết.
(sđd., tr. 243).
(xem lại: sđd., tr. 234).
++ Tư vụ Cơ mật viện Nguyễn Thích (đồng tiến sĩ, người Chiên Đàn, [Tam Kỳ], Quảng Nam) được truy tặng hàm tu soạn do bị giết chết trong cuộc kinh đô quật khởi.
(sđd., tr. 243).
++ Ngày 20-7 âl., Ất dậu (19-8-1885), Hàm Nghi đến Hàm Thao (ở phía bắc sông Khung), cách Sơn phòng Hà Tĩnh 7 ngày đường, ra sắc dụ cho Sơn phòng Hà Tĩnh vận lương, mở đường, rước vua đến đó. Trên đường đi, Hàm Nghi ghé đồn Quy Hợp, Hương Khê (Hà Tĩnh). Nguyễn Chính tâu về kinh. Tam cung phê: “Rất mừng” (nguyên văn). Chuẩn treo thưởng (vàng, bạc, chức hàm) để sớm đón được vua Hàm Nghi, rước về kinh đô Huế.
(sđd., tr. 243).
(xem thêm: tập 37, sđd., tr. 43 – 44).
++ Khâm sai Tôn Thất Phan với 350 quân ở Hà Tĩnh và 1 tác vi lãnh binh đi họp với Sơn phòng sứ Nguyễn Chính.
(sđd., tr. 243).
++ Nghe tin giặc Pháp đến, Tôn Thất Thuyết ép xe vua đi nơi khác, cho Nguyễn Chính đi hậu đạo. Nguyễn Chính liền lẻn thoát, về Nghệ An.
(sđd., tr. 244).
++ Ý chỉ Từ Dũ và hai cung (Vũ thị, Nguyễn thị): Xuống dụ cho lương – giáo (*), vì sợ các địa phương hưởng ứng Dụ Cần vương như ở Quảng Ngãi, Bình Định một cách quờ quạng. Nội dung như sau:
---- (*) Đây là bản dụ thứ hai về vấn đề lương – giáo của Từ Dũ và hai cung (Vũ thị, Nguyễn thị). ----
~~ Ôn lại việc ở 6 tỉnh Nam Kỳ, cuộc chiến tranh Pháp – Hoa ở Bắc Kỳ. Cho rằng: vì không hiểu tình thế, nên nhường đứt Nam Kỳ (3 tỉnh phải nhường cho giặc Pháp, rồi 3 tỉnh khác bị chúng chiếm đóng, rồi lại phải chính thức hóa, kí “hòa” ước nhường đứt Nam Kỳ); chiến tranh Pháp – Hoa (1883 – 1885) xảy ra, là bởi mưu kế “bảo hộ” thông thương, thực chất là xâm lược Bắc Kỳ, mặc dù không cướp hẳn như ở Nam Kỳ.
~~ Vì “hòa” ước Giáp thân 1884 “tái định phân minh” (nguyên văn) đã khiến Pháp tiếc nuối “hòa” ước Quý mùi 1883, nên Pháp đã phá hoại thế “hòa”, tự gây nên chiến (cuộc kinh đô quật khởi). Đánh giá cao cuộc kinh đô quật khởi ấy: “Phàm ai ở đất vua cũng đều thù ghét [giặc Pháp], ai bảo là không nên. Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22-5 năm nay…”. Nhưng lại trách Tôn Thất Thuyết ép xe vua đi ra phía bắc khi đã có dụ nội bộ cho Tôn Thất thuyết về (*).
---- (*) Xem lại: sđd., tr. 226 – 228. ----
~~ Thế lực của Đại Nam không thể chống nổi Pháp. Không nên làm kẻ không hiểu thời và thế mà chống Pháp, cần vương như Quảng Ngãi, Bình Định vừa rồi.
(sđd., tr. 244 – 245).
Xin lưu ý:
Trong thời điểm trước khi Nguyễn Văn Tường bị giặc Pháp lưu đày, một người vốn chủ “hòa” như Từ Dũ (Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích [thư kí] chấp bút) cũng thừa nhận việc đánh giá cao “Cuộc nghĩa cử đêm 23-5 năm nay…”.
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.

++ Từ Dũ lại dụ về vấn đề lương – giáo (lần thứ ba):
~~ Phân tích động cơ, nguyên nhân dẫn đến lương – giáo tàn sát nhau:
~a~ Lương (bình): ghét Thiên Chúa giáo vì không đồng đạo (đạo lí thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân tộc của người Việt từ lâu đời); quan lại bênh dân lương, ép dân Thiên Chúa giáo.
~b~ Giáo (tả đạo, đạo, Thiên Chúa giáo): cậy thế, ỷ vào Pháp mà lấn ép dân lương; Thiên Chúa giáo che chở cho bọn côn đồ cướp ruộng đất dân lương, bao bọc cả bọn trốn thuế…
~~ Quy trách nhiệm cho giám mục, linh mục và quan lại. Quan lại bất tuân, triều đình sẽ thẩm xét. Nếu giám mục, linh mục nào đó sai phạm, triều đình sẽ thông tư cho chính phủ Pháp biết về tình hình lương – giáo ở Đại Nam để từ đó mà nghĩ xử.
(sđd., tr. 245 – 246).
Đây là bản dụ của Từ Dũ. Bản dụ đã phân tích sâu sắc nguyên nhân xung đột lương – giáo, nhưng chỉ dừng lại ở nguyên nhân về mặt tín ngưỡng và kinh tế, xã hội, mà tránh né nguyên nhân trực tiếp, bao trùm là chính trị (dân “giáo” dựa vào quân xâm lược, làm tay sai cho chúng; và dân lương chống giặc Pháp xâm lược, chống “tả đạo” làm tay sai cho giặc Pháp; và sự kích động chiến tranh lương – giáo nhằm làm suy yếu nội lực dân Việt là âm mưu của thực dân Pháp, Thiên Chúa giáo La Mã). Bản dụ cũng vạch trần sự thật để đối ngoại. Có một điều quả là nhân nhượng quá đáng: giám mục, linh mục trên đất nước Đại Nam lại không thuộc quyền xét xử của triều đình Đại Nam nữa!
Tuy nhiên, đặt trong tình hình lịch sử – cụ thể, sau cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ, bản dụ trên vẫn thể hiện được tinh thần tự chủ của một vương triều đã thảm bại trước sự xâm lược của thực dân Pháp và Vatican.
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này.

++ Nguyễn Thành Ý (đã về hưu, lại sung làm khâm sai ra Thanh Hóa): lãnh thượng thư Bộ Hình (Nguyễn Chính vẫn còn phải ở Hà Tĩnh), lại đổi lãnh tổng đốc Hải – Yên.
(sđd., tr. 247).
++ Phan Đình Bình (thự tổng đốc Định – Yên): thự thượng thư Bộ Hộ, Cơ mật viện đại thần (sau đó, thay Nguyễn Văn Tường, lãnh Bộ Lại). Bố chính Võ Văn Báo: tổng đốc Định – Yên.
(sđd., tr. 247).


i. CHƯƠNG CHÍN

XXII. THỜI BỊ CHÍNH PHỦ THỰC DÂN PHÁP RA LỆNH BẮT VÀO GIA ĐỊNH, LƯU ĐÀY RA CÔN ĐẢO VÀ LƯU ĐÀY BIỆT XỨ TẬN TA I TI (TAHITI) VỚI BẢN CÁO TRẠNG CỦA TƯỚNG GIẶC CÔ RA XI (DE COURCY)


++ Cô Ra Xi (De Courcy) bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh thượng thư Bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường, giải giao vào Gia Định. Tại Gia Định, ông bị giam giữ cùng 2 người đã bị bắt vào trước đó: Tôn Thất Đính, Phạm Thận Duật. Sau đó, cả ba người đều bị đày ra Côn Đảo, rồi lại bị đày sang Ta I Ti (Tahiti), một quần đảo đã trở thành thuộc địa của Pháp, giữa Thái Bình dương, chếch về phía trung phần châu Mỹ.
Bản cáo trạng do tên thực dân Tham Bô (De Champeaux) đọc về Nguyễn Văn Tường, nội dung như sau:
1. Nguyễn Văn Tường chống nước Pháp từ rất nhiều năm nay.
2. Từ khi làm phụ chính đại thần với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường đã đổng xuất quân binh đánh Pháp.
3. Trong thời gian sau ngày kinh đô quật khởi (23-5 âl., Ất dậu [05-7-1885]), Nguyễn Văn Tường được Cô Ra Xi (De Courcy) xin chính phủ Pháp gia hạn hai tháng (lệnh bắt lưu đày đã có từ trước) để lo liệu việc nước và đặc biệt là việc Bắc Kỳ được “lặng yên vô sự” (nguyên văn). Đến ngày 27-7 âl., Ất dậu (05-9-1885) này là hết hạn hai tháng đó. Nhưng kì thực, ở các tỉnh tả kì, có nhiều nơi vẫn còn nổi quân giết dân Thiên Chúa giáo.
4. Do đó, nay Cô Ra Xi (De Courcy) thừa lệnh chính phủ Pháp, kết án Nguyễn Văn Tường: tội lưu đày biệt xứ.
Hôm ấy, lúc chở Nguyễn Văn Tường ra đến cửa biển Thuận An (Thừa Thiên – Huế), cũng là lúc Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình vào đến cửa biển đó (27-7 âl., Ất dậu [05-9-1885]).
Sau đó mấy tháng, trên chuyến tàu lưu đày, khởi hành từ Côn Đảo (*), Phạm Thận Duật chết vì bệnh, bị buông xác xuống biển. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính bị đày đến tận quần đảo Ta I Ti (Tahiti) thuộc Pháp. Như thế, theo chúng, Tôn Thất Đính cũng là trọng phạm (**).
(sđd., tr. 247).
---- (*) Lần này, tàu thủy giặc Pháp mới chở gồm cả hai người lần lượt bị bắt vào trước đó.
(**) Tôn Thất Đính được Pháp phóng thích, đưa di thể Nguyễn Văn Tường về đến Huế, Quảng Trị vào tháng giêng âl., Đinh hợi (1887). Về quá trình chống Pháp và vai trò của ông trong và sau cuộc kinh đô quật khởi, ngụy vương Đồng Khánh cho rằng tội của Tôn Thất Đính không phải nhẹ, nên sai Bộ Binh canh giữ (ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 248).
Xin xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB. ở cuối tệp này. ----



________________________

PHỤ LỤC
TRÍCH ĐOẠN NGUYÊN VĂN
“ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN”
Bản dịch Viện Sử học
(nguyên là phụ lục thuộc cuốn khảo luận của Trần Xuân An:
Nguyễn Văn Tường [1824 – 1886], ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”
đã được đăng tải trên Tạp chí điện tử Giao Điểm, số tháng 5-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucII.htm


35. Trước đêm Kinh Đô Quật Khởi, 22 – 23.5 Ất dậu (04 – 05.7.1885) (*):

“Ngày ất mão, kinh thành có việc; Tôn Thất Thuyết kèm vua vâng mệnh 3 cung, ngự giá chạy ra miền Bắc.
Trước đây, đô thống tướng Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] đến Tòa Sứ xin dâng quốc thư làm lễ vào chầu yết, nhưng tức trước Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng tắt [đi không có nghi trượng đại thần – TXA. ct.] sang Sứ quán hội thương. Thuyết thác cớ không đi. Văn Tường một mình cùng Phạm Thận Duật đi. Tướng ấy không nghe, cố mời Thuyết; Thuyết sợ đi, hoặc có việc gì xảy ra chăng; sau bèn không đi; ngày thường cho quân Phấn Nghĩa làm tự vệ cho mình, lại nghiêm sức các quân dinh kiểm soát chỉnh đốn những đồ khí giới, Văn Tường với đình thần cho rằng đó cũng là thanh thế để phòng bị vậy. Đêm ngày 22 tháng ấy, Thuyết ngầm chia quân các dinh vệ làm 2 đạo …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 219 – 220; tiếp liền vào đoạn
trích tiếp theo).
---- (*) Đầu đề từng trích đoạn, người biên soạn (Trần Xuân An) đặt. Trình bày với cách thức này, tôi mạn phép khỏi phải in đậm (bold) câu tiểu đề. ----



36. Cuộc Kinh Đô Quật Khởi, khuya 22 rạng ngày 23.5 Ất dậu (04 – 05.7.1885):

“… Đêm ngày 22 tháng ấy, Thuyết ngầm chia quân các dinh vệ làm 2 đạo: Một đạo sai em là Trị phòng tham biện (nguyên ở Phòng, Thuyết sức về) Tôn Thất Lệ cai quản, nửa đêm sang đò sông Hương hợp cùng với bọn thủy sư đề đốc và hiệp lý đánh úp Tòa Sứ; Thuyết cùng với bọn Phấn Nghĩa chưởng vệ là Trần Xuân Soạn làm một đạo đánh úp Trấn Bình đài, doanh nam Pháp.
Nguyễn Văn Tường không biết chi hết.
Thuyết phân bổ xong, bèn ở lúc đầu trống canh tư (tức ngày 23) bắt đầu nổ súng ở đài Trấn Bình, tiếng kêu vang động.
(Khi ấy Văn Tường ở Bộ Lại đương ngủ. Binh Bộ thự tham tri là bọn Hoàng Hữu Thường nghe tiếng súng nổ, tức thì đến gõ cửa báo Văn Tường biết. Tường dậy, sợ nói: “Nguy rồi!”, bèn vội vàng gửi tâu xin mở cửa Hiển Nhân và cửa Đại Cung, chạy vào Tả vu, nhưng không biết làm thế nào).
Quân Pháp đóng cửa chặt, lẻn nấp đợi sáng, nhưng từ từ nổ 1, 2 tiếng súng lớn.
(Thuyết khi ấy ở vườn sau điều khiển, Xuân Soạn ủy người báo cho đài Trấn Bình biết quân Pháp đã bị súng ta bắn chết hết rồi; tiếng súng lớn bắn, tưởng là súng quân Pháp ở ngoài sông đài Trấn Bình bắn vậy).
Thuyết lại sai vần súng lớn lên thành chỉ bắn Tòa Sứ. (Cũng bị phá vỡ hai nơi). Đạo quân Tôn Thất Lệ cũng phóng súng bắn cháy các nhà tranh gần Tòa Sứ.
Tới lúc sáng rõ, quân thủy lục của Pháp đều họp súng lớn, xe máy để ở trên đài và trên cột buồm tầu, bắn liền mấy tiếng, ầm ầm như sấm và đạn bay rơi xuống, bị thương trúng chết khá nhiều, và rơi vào các cung điện nhà cửa ở trong hoàng thành và cung thành, gián hoặc có xuyên hoại; bọn lính Pháp lại chia nhau từng toán, đem súng tay ngang ngược bắn phá; 2 đạo quân ở trong và ở ngoài của ta bị tan vỡ cả; trong thành rối loạn).
Văn Tường tâu xin vua và xa giá 3 cung đi ra Khiêm cung tạm thời lánh loạn; (khi ấy Văn Tường đã vào bên tả vu, một lát xin mở cửa Hoà Bình đến chỗ Thuyết điều khiển, nhìn trông biết là thất bại rồi, lại vào Tả vu tâu xin vua xuất hành; trong khi vội vã, chỉ soạn được cái ấn ở ngự tiền, văn lý mật sát và ấn kiềm, 2 quả, với hạng để vàng bạc, đồ đệ đem theo); dùng hữu quân đô thống là Hồ Văn Hiển phù xe; giờ thìn hôm ấy bắt đầu từ cửa tây nam ra.
Văn Tường vâng ý chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưu lại giảng hòa, tức thì đi tắt vào nhà thờ đạo Kim Long.
Thuyết ra sau gặp giá, bèn một mình hộ chuyển đến Trường Thi (ở xã La Chử), nhân kèm đi ra ngoài bắc. Thự hiệp biện đại học sĩ là Phạm Thận Duật, thự tham tri Trương Văn Đễ, và Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ đều đi theo xa giá. (Khi đó tùy giá chỉ có xe loan và lính biền binh lẻ tẻ chầu chực trên dưới ước 100 người, còn dư các dinh vệ, sau khi thua trận đều tức tìm đường tản về quê quán).
Giờ ngọ, mới đến xã Văn Xá; nghỉ một chút, Thuyết tức thì kèm vâng mệnh vua, đêm qua tình hình vua phải ra đi thông báo cho thiên hạ cần vương [*]; lần lượt tư cho Nam, Bắc tuân làm.
Ngày bính thìn, vua cùng với xa giá 3 cung đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 220 – 221 [tiếp liền đoạn
trích tr. 219 – 220 phía trên]).

[*] Đây là Thông tư Cần vương, không phải là Dụ Cần vương duy nhất và chính thức được viết và phát đi vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất dậu (13.7.1885).



37. Tình hình ở Huế sau khi vua Hàm Nghi và 3 cung cùng Tôn Thất Thuyết đã đi khỏi, sáng 23.5 Ất dậu (sáng 05.7.1885):

Đương lúc xa giá nhà vua đã đi rồi, quân Pháp lên kỳ đài treo cờ hiệu tam tài; súng bắn vẫn còn ầm vang; quan lại, nhân dân giành nhau tìm cửa chạy ra, rồi tự dày xéo lên nhau, chết và bị thương rất nhiều. Quân Pháp bèn đốt hai bộ Lại và Binh (nguyên là nơi Văn Tường và Thuyết ở đó), và thuốc đạn khí giới bốc lên xông trời (2 ngày đêm không tắt), chia giữ các cửa thành trong ngoài và các kho tàng, cung điện. Ngày phát gạo kho, thuê vát những dân còn ở trong thành và những bọn ở ngoài lẻn vào (đều là đồ vô lại nhòm vào toan lấy đồ đạc của quan tư còn bỏ sót lại), sửa đắp các trại lính làm nơi trú đóng, và nhặt chôn, hoả táng các xác bị chết và bị nạn ở lúc trận vong. Dưới đô thành, nơm nớp sợ chạy”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222).



38. Theo sắc chỉ của Từ Dũ, Nguyễn Văn Tường giảng “hoà” với De Courcy qua trung gian môi giới của giám mục Caspar, 23.5 Ất dậu (05.7.1885):

Văn Tường hôm ấy đã vào nhà thờ đạo Kim Long, bèn cùng với giám mục Lộc [Caspar – TXA. ct.] thương thuyết, cùng đến Tòa Sứ trần tình, cùng bàn nỗi khổ với đô thống Pháp, lại xin giảng hòa. Đô thống ấy cũng nghe lời, dặn phải rước ngay vua và Tam Cung hồi loan về triều.
Buổi chiều hôm ấy, Văn Tường bèn bàn với quan Pháp vào thành tạm đóng (đóng ở trong nhà Bộ Hộ).
Hôm sau (tức là ngày 24) bèn hội đồng yết thị cho 2 nước hòa hảo như cũ. Nhưng cho ở trong thành là không tiện, lại bàn ra Nha Thương bạc, tạm đóng ở đấy làm việc. Bèn đem hiện tình giảng hòa phi tấu nơi hành tại và thông báo cho Nam, Bắc biết.
Lúc đó, trong đô thành nhân dân hãy còn nhốn nháo sợ hãi; bọn gian đồ, phần nhiều đi cướp bóc ở ngoài mặt phố và các nơi làng xóm. Văn Tường nghiêm sức đi tuần ngăn cấm. Viên huyện Hương Trà tức thì bắt được vài tên phạm ở 2 chợ Nam Phố, An Hòa, đem chém đầu bêu ngay để cảnh cáo, các bọn khác nghe tin đều xẹp cả”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222 – 223).



39. Nguyễn Văn Tường ủy nhiệm Phạm Hữu Dụng ra Quảng Trị bàn việc với Tôn Thất Thuyết, tâu vua biết, định rước xe vua về, ngày 24 – 25.5 Ất dậu (05 – 06. 7. 1885):

“…Văn Tường lại ủy Binh Bộ thị lang là Phạm Hữu Dụng thân đến hành tại, đem hiện tình bàn với Thuyết, tâu vua biết, định xin rước xe vua về; Hữu Dụng đến bị Thuyết ngăn cản. (Thuyết không tâu vua, nhưng dặn Hữu Dụng về báo với Văn Tường, phải nên đoàn kết với quân Pháp; [Pháp – TXA. ct.] không lại lấn áp như trước, thì mới đón xe vua về). Hữu Dụng sợ Thuyết, bèn từ về ngay, không dám tâu vua biết …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).



40. Tình hình Thừa Thiên và cả nước, 27 – 29.5 Ất dậu (09 – 11.5.1885):

“Riêng một hạt phủ Thừa Thiên, vì có Văn Tường ở đó giảng hòa và hay hiệu lệnh ngăn cấm, hơi nhờ được yên; còn dư các hạt Nam, Bắc, thì bọn côn đồ tụ họp, cướp bóc nổi lên. Lương, giáo ngày thường thù nhau, sinh ra tàn sát lẫn nhau, nơi nào cũng có. Đô thống Pháp lại yêu cầu Văn Tường để chiêu tập quan lại, thôi bắt binh dân, hiểu bảo cho lương, giáo Nam, Bắc cùng yên và cấm sự xảy ra trộm cướp, hạn đến tháng 2 [ nhị nguyệt: 2 tháng – TXA. ct.] là thanh thiếp”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).



41. Tập tâu Nguyễn Văn Tường đệ gửi 3 cung về việc hồi loan (về Huế), 02.6 Ất dậu (13.7.1885):

“… Tuần phủ Quảng Trị là Trương Quang Đản vẫn bàn cùng Lương Thành, cho thành Quảng Trị là nơi phong trần, nghĩ xin 3 cung hồi loan, đã tư cho Văn Tường biết làm. Văn Tường được tin báo, bèn gửi thư đến khâm sứ Pháp là Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.] trình bàn với đô thống Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] thoả nghĩ phúc làm. Ngày mồng 2 tháng ấy, tức tâu đệ trước xin ba cung hồi loan ở Khiêm cung, cho yên lòng dân, tịnh uỷ cho biện lý là Trương Như Cương, Tôn Thất Niêm kính đến rước.
(Tập tâu lược rằng [*]:
“Thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vâng di mệnh tiên đế cùng sung chức Phụ chính, nay mà hỏng việc, tội thần không nói sao cho hết. Nhưng thần cũng không tưởng rằng Tôn Thất Thuyết lừa dối mình như thế; đến 3 cung tuổi già, nhà vua còn trẻ, lặn lội gió bụi, chịu làm sao nổi. Huống chi kinh thành, miếu điện, lịch đại sơn lăng, một buổi bỏ đi như không, lòng thần tử chịu sao được sự chua xót ấy, nên thần phải tuân theo sắc văn, đem thân lăn lộn ở đây, cùng với quan Pháp đi lại, vì bản tâm của thần, nguyền cùng với xã tắc mất còn, không dám lìa bỏ vậy. Nay tiếp tờ tư của Trương Quang Đản tỏ bày mọi lẽ, đã gửi thư cho khâm sứ Pháp; cứ theo lời phúc tư thì đô thống đại thần rất mong rước vua về. Cũng mong giữ gìn cung điện như cũ. Duy trong thành ấy chửa tĩnh, cũng có người ngầm muốn nổ súng, bằng rước vua vào thành, sợ có chưa tiện, xin hãy ngừng nghỉ ở Khiêm cung. Đô thống ấy xin phái 100 hay 200 quân ở ngoài canh chực, để giữ khỏi sự quan ngại, nhưng bọn quân ấy nên dùng thứ ăn như trâu, dê, gà, vịt mọi thứ, ta cũng ưng cho. Thần trộm chiểu cung điện trong thành dẫu còn như cũ, nhưng số quân Pháp ở đó khá nhiều, chưa được yên lặng, xin trú ở Khiêm cung, tưởng cũng thoả thuận. Thần nghiệp dĩ phái người kiểm soát chỉnh đốn, tịnh uỷ bọn thần là Trương Như Cương đi Quảng Trị chực đón hỗ tòng. Cúi xin mệnh giá hồi loan, để yên lòng dân”.
Cuối cùng viết niên hiệu, mượn dùng ấn quan phòng của khâm sứ Pháp).
Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưỡng cung chuẩn như lời tâu, lấy ngày mồng 3, ất sửu, thì hồi loan. (Phủ thần là Trương Quang Đản đem quan quân, binh phu tỉnh ấy theo đi hộ tống). Ngày mồng 5, đinh mão, về đến Khiêm cung …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 224 – 225).

[*] Xin xem lại: Chú thích (2), bài khảo luận “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885)”.



42. Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 02.6. Ất dậu (13.6.1885):

“… Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở Phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Phòng đến kinh ống trạm còn chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.
Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược nói:
“Y [Cô-ra-xy (De Courcy) – TXA. ct.] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa mãn đôi bên, không phải “thỏa hiệp vô nguyên tắc” – TXA. ct.], phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho 2 nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
Tình thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa – TXA. ct.], cốt không phụ tấm lòng tốt của triều đình dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp – TXA. ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì””.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 225 – 226).



43. Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về hoàng tộc, ngày 07.5 Ất dậu (18.7.1885):

“Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại lược nói:
“Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy thì theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc gì, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản gì, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân tình không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, vì muốn bảo toàn xã tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quý giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không còn được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này; quay nhìn nơi lăng miếu và các bậc ý thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đã có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [tức là Nguyễn Văn Tường – TXA. ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta vô cùng. Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng””.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 226 – 228).



44. Thọ Xuân vương Miên Định làm giám quốc, ngày 08.6 Ất dậu (19.7.1885):

“Ý chỉ 3 cung chuẩn cho Thọ Xuân vương là Miên Định quyền coi việc nước; phàm việc tâu suốt 3 cung, xin chỉ tuân hành …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 229).



45. Dụ của Từ Dũ, tháng 6 Ất dậu (tháng 7.1885):

“… Trong khi vội vã, phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường, tức thì đem lão cung và xe vua ra thành tạm lánh. Ta nhân dặn thầm đại thần ấy rằng: “Lui cùng với quan Pháp ở trong bàn tính; may được nghe lời và sớm tan quân” …” [*].

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 230).

[*] Trích tiểu sử Nguyễn Nhược thị Bích:
“… Năm 36, Dực Tôn Anh hoàng đế lên chầu trời, vâng ý chỉ 2 cung, sắc dụ đều cho tay thị ấy làm. Năm Hàm Nghi thứ nhất, tháng 5, kinh thành có việc, đi theo 2 cung đi Quảng Trị có bài hát quốc âm Xe vua vào đất Thục [Đường Minh Hoàng tránh loạn đi vào Thục – VSH. chú thích]. Ngày 2 xe cùng về, các sắc phụng chiếu thư, cầm bút viết xong ngay, việc gì cũng xứng chỉ. Năm Thành Thái thứ 4, kính vâng từ chỉ, nghĩ công khó nhọc, tấn phong tam giai Lễ tần. Năm Duy Tân thứ 3, tháng 11, thị chết, thọ 80 tuổi” (Đại Nam liệt truyện, tập 3, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 78). TXA.



46. Bản tấu của Nguyễn Văn Tường phúc tâu lên Từ Dũ thái hoàng thái hậu, khoảng từ 16 – 19.6 Ất dậu (tháng 8.1885):

“Ngày 23 tháng trước, có việc xảy ra. Chiều hôm ấy, thần bàn với quân Pháp vào thành tạm đóng. Ngày 24, hội đồng quan Pháp, yết thị hai nước đã hòa hảo như xưa, quan lại binh dân đều về như cũ.
Từ sau đi, thần hỏi các nơi ở ngoài: từ ngày 23, 24 trở đi, những xã ở gần kinh thành, gián hoặc có bọn cướp bóc nổi lên; đến ngày 26, thần sức cho các viên huyện, rọâng đi tuần trập, bắt được 2, 3 tên phạm, đem chính pháp ngay. Từ đấy đi, bọn côn đồ sợ có uy lệnh của Triều đình, dần phải liễm chấp; hiện nay dần được ninh thiếp, dân được yên ở; tin tức các tỉnh Nam, Bắc, gần đây đều được cùng thông, cũng không có việc gì khác. Duy [:chỉ mỗi một; chỉ riêng một – TXA. ct.] có Lê Trung Đình tỉnh Quảng Ngãi nổi loạn, rồi cũng yên tĩnh.
Binh dân trong ngoài kinh thành bị thương, chết rất nhiều; người bị thương đều đã lục tục về quê, còn người chết thì quan binh Pháp hoặc đốt đi, hoặc chôn cất, nay đã sạch sẽ.
Đến như điều khoản nghị hoà, quan Pháp bàn nói: Chờ khi rước hoàng thượng hồi loan, giao trả thành trì, mới có thể bàn định được.
Lại như quan viên trong ngoài, gián hoặc có người tài, có người không tài, vốn nên cất, bỏ. Nhưng nay ngôi lớn trong kinh chưa định, hiệu lệnh chưa thống nhất, sự thưởng phạt chưa nên vội ra, xin chờ sau sẽ làm. Và khởi dùng người cũ là việc cần kíp hiện nay, là duy Đình Túc, tuổi gần 80, đi đứng thế khó khoẻ mạnh, Hoàng Tá Viêm, Vũ Trọng Bình lại bị bọn kia ngờ ghét, cũng khó giảng giải. Việc nhiều nguời ít, không biết làm sao, thần chỉ biết hết lòng hết sức thôi. (Việc Lê Trung Đình chép ở dưới)”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 233 – 234).



47. Nguyễn Văn Tường đấu tranh với De Courcy, De Champeaux, Nguyễn Hữu Độ về vấn đề bố trí quan chức ở Bắc kì, cuối tháng 6 Ất dậu (7.1885):

“Lấy quyền tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, vẫn sung Bắc kì kinh lược đại sứ.
Khi ấy Hữu Độ đã trở về Hà Nội, đô thống Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.], khâm sứ là Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.] bàn nói: “Hiện nay Bắc kì lắm việc, Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm, sung viện chức, và vẫn sung chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố, án, ở các tỉnh Bắc kì cho đến các phủ huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do Nha Kinh lược sứ chọn tâu, chờ chỉ định đoạt”. Nhiếp chính Miên Định, phụ chính Nguyễn Văn Tường phúc tâu [lên Từ Dũ và 2 cung – TXA. ct.]: Việc đó là tạm thời, nghĩ nên tạm nghe ý đó mà làm. Văn Tường nhân phụng dụ [của Từ Dũ – TXA. ct.] nói: Trải bày lý do. Lại nói: Do ngươi, tuy việc thoả bàn vụ hợp thời nghi, để xứng với lời khen của người mới được. Vì ý ám chỉ chê Hữu Độ nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi cao, mà không phải tự bản ý do mệnh lệnh của Triều đình vậy.
(Trước đây, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất được vui lòng; Cơ mật viện nhiều lần đem việc tâu lên, chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, Hữu Độ đều được quan Pháp che chở, rất là đáng ghét.
Ngày tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu Tạo lấy việc xây sinh từ [của Nguyễn Hữu Độ – TXA. ct.] để tâu hặc, vì muốn nhân đó để đẩy Hữu Độ đến tội. Hữu Độ chứa sự bất bình đã lâu. Gần đây, đô thống Pháp từ Bắc về Sứ quán, tức thì trước mời Văn Tường và Thuyết đến họp. Thuyết ngờ sợ cho là hẳn Hữu Độ đã có ngầm chỉ thế nào, nên mới như thế, cho nên sau không chịu đi; bèn gây hận; đến đây [Hữu Độ – TXA. ct.] về kinh, [ y – TXA. ct.] lại đến Sứ quán, rồi về nhà riêng [của Hữu Độ tại Huế – TXA. ct.], uỷ đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định tới bàn với Văn Tường; và [Hữu Độ – TXA. ct.] gièm [rằng – TXA. ct.], không bàn với Thọ Xuân vương thì đừng đi. Kịp khi Hữu Độ tới Sở Thương bạc mà Văn Tường ở đó, hai người nói chuyện với nhau, đã hơi có ý khiếm hòa [:thiếu hòa khí – TXA. ct.]; Văn Tường phụng dụ này, lời lẽ lại có ý chê ngầm theo kiểu bì lí xuân thu [: bề ngoài với lí lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa thu – TXA. ct.]. Hữu Độ tiếp dụ, giận lắm, nhân đó càng thêm để lòng).

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 236 – 237).



48. Vụ Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, đầu tháng 7 Ất dậu (tháng 8.1885):

“… Bình Sơn tả vệ hương binh chánh quản là cử nhân Lê Trung Đình, hữu phó quản là bọn tú tài Nguyễn Tự Tân, Vũ Hội [thuộc võ hội hương binh? – TXA. ct.], và thương biện Nguyễn Văn Hoành cho rằng, xe vua đã ra, lại nghe có Dụ Cần vương, muốn nhân đó dấy quân, tức thì tới tỉnh xin cấp khí giới, lương xướng. Tỉnh thần cho rằng lính hương binh chi canh giữ nơi làng xóm, không ví với lính tỉnh được, không dám tự tiện cấp, đợi chạy giấy mời những quan viên tại quán [quan hưu trí – TXA. ct.] bàn nghĩ sẽ làm. Bọn Đình, Tân bèn chia phát binh phu làm 3 đạo, tất cả hơn 3.000 tên. Trước ngày mồng 2 tháng này, tiến đến tỉnh thành, hiệp quản Trần Tu, thành thủ úy là Nguyễn Côn mở cửa nội ứng, bọn ấy sấn vào tỉnh thành, đem hai viên bố, án ra thành giam trói, thu lấy ấn triện, binh trượng, tiền lương, buông tha tù phạm, trước chém một tên suất đội, 2 tên dân đạo, cất nguyên Tuy Lý vương Miên Trinh (nguyên được giáng tước công, an trí ở trong tỉnh thành này) làm phụ chính quốc vương. Miên Trinh không theo, giả làm có bệnh nằm lỳ không dậy. Bọn ấy bèn đặt những danh chức ngụy là thống đốc, tham tán, đề đốc, lãnh binh, đốt nhà và giết chết dân giáo, làm việc ngang ngược không kiêng nể ai. Quyền tiễu phủ sứ ở Sơn phòng Nghĩa Định là Nguyễn Thân báo với tổng đốc Bình – Phú là Lê Thận (Thận đã ủy cho án sát Bình Định là Lê Duy Cung đi cùng Sơn phòng họp làm), ủy cho Đinh Hội đem hơn 900 biền binh tiến tiễu. Ngày mồng 5 tháng ấy, đến tỉnh chia quân sấn vào thu phục tỉnh thành và ấn triện bố, án, bắt sống được Trung Đình, và giết được bọn Tự Tân tất cả 7 tên, còn dư đều trốn chạy, bèn đưa 2 viên phiên, niết về dinh, tiễu phủ sứ ấy tức thì ủy cho mời các quan viên ở quán (nguyên Lễ bộ thượng thư là Đỗ Đệ, thự đốc Bình – Phú là Nguyễn Trọng Biện [Nguyễn Hiệp – TXA. ct.], tuần phủ Nam – Ngãi là Đoàn Nhượng, biện lý Công bộ là Vũ Duy Tĩnh (nguyên cũ là Văn Thanh)) họp bàn, và tư bàn với tuần phủ Nam – Ngãi là Nguyễn Ngoạn, quyền lưu 2 phiên, niết nhận ấn làm việc, để chờ mẹânh Triều đình, và Trung Đình, chém ngay; rồi người ta báo cho Hộ bộ lang trung biết. […].
Đến đây Cơ mật viện cho rằng Sơn phòng ấy sớm làm tắt được ngòi cơ biến, nghĩ chuẩn theo đặc cách thưởng cất cho Đinh Hội, Nguyễn Thân để tỏ sự khuyến khích. Còn bọn dư đảng nguyên đi theo Trung Đình đã tan về thì miễn khỏi cứu xét” [*].

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 238 – 239).

[*] Vụ Quảng Ngãi (Lê Trung Đình) và vụ Bình Định (Đào Doãn Địch) khác nhau về “ngọn cờ khởi nghĩa”. Lê Trung Đình tôn phù Tuy Lý vương Miên Trinh, một nhà thơ hoàng tộc chủ “hòa”, câu kết với Pháp thời Hiệp Hòa, vốn bị đày vào Quảng Ngãi (mặc dù Miên Trinh từ chối); do đó Nguyễn Văn Tường đánh giá đấy là cuộc “nổi loạn” duy nhất (ĐNTL.CB, tập 36, sđd., tr. 233 – 234). Đào Doãn Địch chỉ thuần hưởng ứng Dụ Cần vương, “bình Tây sát tả” (đánh Pháp và đánh bọn dữu dân trong giáo dân, vốn đích thực là tay sai của thực dân), nên ngầm được ủng hộ (mặc dù De Champeaux thúc giục đánh dẹp), và cuối cùng là được “rộng tha”. Xin xem lại: bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi, 05.7.1885”. TXA.



49. Vụ Bình Định, tháng 7 Ất dậu (tháng 8.1885):

“… Tháng trước, thân hào tỉnh ấy cũng nghe hành tại có Dụ Cần vương, mưu dấy quân, bèn họp đem những lính kinh tan về và lính dõng ở dân đốt phá nhà đạo, dìm giết giáo dân, rồi đem binh dân ước hơn vạn người, quanh tới tỉnh thành, yêu cầu cấp cho khí giới (đã bách giám đốc thần là Lê Thận lại cho về dinh), ngụy đặt những danh mục đề đốc, tham tán, lại đi khắp trong hạt giết dân giáo, mộ lính dõng, nói phao lên tiến đánh quân Pháp ở cửa Thi Nại. Khâm sứ Pháp là Tham-bô bàn phái cho khâm sai đã mệnh, cho Binh bộ tham tri Hoàng Hữu Thường sung phái ngồi tầu thủy Pháp chạy đi. Lúc đó vì đường ngăn trở, phải trở về. Khâm sứ Pháp lại bàn tục phái đổi sai thị lang Bộ Lễ là Ngô Trọng Tố (lãnh bố chính sứ tỉnh ấy về trước, tình thế đã am hiểu) rồi vì đường dịch lộ Quảng Ngãi không đi được, lại sai lãnh bố chánh sứ Quảng Nam là Bùi Tiến Tiên (nhưng lấy án sát Hà Thúc Quán quyền sung bố chánh sứ Quảng Nam, Hồng lô tự khanh về nuôi cha mẹ, là Nguyễn Duy Hiệu sung làm án sát sứ). Thự thống chế Ngô Tất Ninh sung chánh phó khâm sai quản đem quan binh 2 tỉnh Nam – Ngãi 700 tên đi ngay đến, họp làm, đều nhân đường ngăn trở chưa đi được.
Đến đây thự tổng đốc là Lê Thận tâu nói: “Đã họp văn thân quan viên trong hạt ấy hiểu dụ. Bọn ấy đã tản về, xin nên rộng tha, cho yên sự phản trắc …” […].
“… […] Nếu còn giữ thói mê, do các quan đô thống, khâm sai đem đại đội quan binh, không kể lương hay giáo, cũng phải đau lòng đánh dẹp…” ”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 241 – 242).



50. Dụ của Từ Dũ và 2 cung, đánh giá cao cuộc Kinh Đô Quật Khởi, tháng 7 Ất dậu (cuối tháng 8 bước sang đầu tháng 9.1885):

“… Từ điều ước tái định [Patenôtre – TXA. ct.] đã được phân minh, khiến nước Pháp trước tự bại hòa gây biến, thì phàm ai ở đất vua, cũng đều thù ghét [giặc Pháp – TXA. ct.], ai bảo là không nên. Không gì bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, cuối tr. 244).



51. Dụ của 3 cung về vấn đề lương, giáo phục thù, ít hôm trước ngày Nguyễn Văn Tường bị bắt, cuối tháng 7 Ất dậu (đầu tháng 9.1885):

“… Đến đây lại lấy hai bên bình, giáo còn chưa yên, lại dụ thêm rằng:
“Bình, giáo dù có khác lỗi, nhưng đều là con đỏ của Triều đình, không nên chia rẽ khác nhau. Gần đây, có nhiều việc giống nhau và khác nhau. Người làm dân lương ghét vì không đồng đạo [không cùng đạo thờ kính anh hùng dân tộc, thờ kính tổ tiên lâu đời của người Việt Nam – TXA. ct.] mà trong lòng sinh nóng lạnh. Người làm dân giáo, cậy thế [thực dân Pháp, cố đạo Pháp – TXA. ct.] lấn át, mà tình ruột thịt đem đặt ra ngoài da. Hai đằng ghét nhau thì hai đằng hẳn thù nhau, thì thế cố nhiên như thế. Nhưng xét kỹ ra thì đầu đuôi cũng tự người đầu mục không khéo xử trí cho nên nỗi ấy. Ôi! Nhà nước dựng nên quan tư mục, cốt để trị dân. Làm sư đạo của dân một địa phương, phải nên giữ lòng minh chính. Hoặc có kẻ bị ghét quá đáng, một khi kiện cáo, gia thêm nạt nộ mà dân giáo uất ức không bày tỏ được. Hoặc sợ hơi nóng bốc lên, gặp có sự lăng ngược, một chiều nín náu, mà ẩn tình của người dân lương không bày được. Làm giám linh mục ấy, trách nhiệm giảng giáo, phải nên giữ lòng công bình. Bình dân hoặc có kẻ trốn tránh dao thuế, mà chạy vào nhà giáo ấy, hoặc có kẻ tranh chiếm ruộng đất mà nhờ thế ấy, đều bao dung cả. Đến nỗi, có kẻ cậy thế mà bức bách người, hoặc có kẻ khinh thường pháp luật mà không đoái, đều không phải là sở ý của Thiên Chúa dạy dân. Kẻ bình dân kia sao không nghĩ cùng ở đất vua, đều là dân vua, giáo dân bình nhật binh đao thuế khóa cùng với lương dân cùng thế. Gián hoặc bức hiếp bình dân vì lẽ gì, sao không tới địa phương quan mà tố cáo, mà dám hại nhau, ngược đãi nhau ngang trái như thế, đối với pháp luật thực khó dung. Giáo dân ấy sao chẳng nghĩ sinh ở đời này, tam giáo cửu lưu, đều có đạo cả, nào ai có cấm đâu mà bèn mượn thế lấn người, đến nỗi chứa bao thù oán, lòng sao nỡ thế. Ôi! Giáo đã không dung được lương, thì lương cũng không cam tâm chịu thua giáo, phải đến tranh nhau, khiến cho trong chốn làng xóm, không lấy ơn lễ ở với nhau mà lại trông nhau như thù nghịch. Giết người, đốt nhà, tội có nhỏ đâu, mà lại đem thêm thử pháp luật như việc gần đây xảy ra ở Bình Định và Quảng Ngãi, rất là quái gở, đáng giận, cần nên tỏ rõ điển hình để răn bảo. Nhưng nghĩ bọn ngươi một khi giận dỗi, dám làm điều trái đạo, rồi hay cải hối được; nếu chẳng uốn nắn cầu toàn, hẳn đến ngọc đá đều cháy; trong lòng ta thực không nỡ thế, đã chuẩn gia ơn cho miễn sự tra xét một lần.
Từ này nên hậu tình hòa hảo, không nên ghen ghét lẫn nhau. Làm người coi địa phương phải ngay sáng để xướng xuất, mà sự oan uổng cần được thân lý; làm giám linh mục phải công bằng để dạy dỗ, mà sự ghen ghét phải bỏ đi; khiến cho cùng thuận, cùng giúp, cùng phù trì nhau, hai bên hoà thuận thì còn gì vui bằng. Nếu không khéo khu xử, đều tự thù hằn nhau, thì đều có tội để xử. Địa phương quan, chiếu theo lệ nịch chức nghiêm trị. Giám linh mục, tư sang nước Pháp nghĩ xử. Đều nên kính cẩn nhé! Thông lục đều tuân”. …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 245 – 246).



52. Bản án của thực dân Pháp về Nguyễn Văn Tường, do De Courcy, De Champeaux cáo thị, ngày 27.7 Ất dậu (05.9.1885):

“Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định.
Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [: vốn – TXA. ct.] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.]; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp – TXA. ct.] cho hai tháng [nhằm để – TXA. ct.] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [kì thực – TXA. ct.] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh Tả kỳ về phía nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ƯNG [:nên ; phải – TXA. ct.] kết tội lưu.
Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An. Buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.
(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti – TXA. ct.]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tầu, buông xác xuống biển) …”.

(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 247).





Hết phần 3 của CHƯƠNG TÁM (trọn chương)
Xin xem tiếp CHƯƠNG CHÍN
ở tệp 11, cũng trên web-blog này:
http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/



Xếp chữ xong phần 3 chương tám (trọn chương), vào lúc 10 giờ 55 phút,
ngày thứ hai (thứ ba cũ) 21-02 HB6 ( 2006 )
[24 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.

Trần Xuân An


________________________

Sáng thứ ba (thứ tư cũ), 22-02 HB6 ( 2006 ),
tác giả đã chỉnh sửa lại một vài lỗi về trình bày: chữ nghiêng (italic); ~~
và bổ sung dưới dòng chữ này một lưu ý:
XIN TRUY CẬP ĐỂ ĐỌC NHỮNG ĐOẠN TƯƠNG ỨNG VỚI ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT NÀY TRONG BỘ TRUYỆN - SỬ KÍ - KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ: "PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)" (Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2004):
http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/

Trân trọng.
TXA.

______________

ĐÍNH CHÍNH (05 tháng chín, HB6 [2006]):

Ở đoạn "Ngày 17-6 âl., Ất dậu (28-7-1885)...", người biên soạn (TXA.) đã đính chính lỗi gõ phím vi tính; chính xác là như sau:
Ngày 19-6 âl., Ất dậu (30-7-1885), Nguyễn Hữu Độ lại ra Bắc
.

Xin đính chính như trên.
Thành thật cáo lỗi cùng quý người đọc.
Trần Xuân An.

17.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 9)

TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886),
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”

(tiếp theo)
(Tệp 9)
(chương tám / phần 2 / còn tiếp)


H. CHƯƠNG TÁM (phần 2)
(tiếp theo tệp 8, phần 1, chương tám)

++ Vua Kiến Phúc ốm từ tháng 4 âl., Giáp thân (1884) năm nay. Sau đó, vua lại khỏe. Ngày mùng 7 tháng sáu âl. tháng này, vua ngự ở điện Văn Minh; đình thần chầu mừng; vua ban thưởng. Liền đó, vua trở bệnh. Ngày mùng 10 (cách ngày ngự chầu chỉ 3 hôm), bệnh vua trở nên nguy kịch, và mất vào giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa) tại chính tẩm điện Càn Thành. Hoàng thái phi cho vời Miên Định, Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật đến để truyền di chúc: Lập Ưng Lịch, em ruột của vua Kiến Phúc, làm vua nối ngôi. Tất cả tôn nhân, đình thần tâu lên Từ Dũ, Khiêm hoàng hậu Vũ thị; rồi cùng rước Ưng Lịch vào cư tang, làm tự quân.
Kiến Phúc được thờ ở Thế miếu (vua chính thống, ngang với các tiên đế: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị…), vào đời Thành Thái (năm thứ 6 [1894]).
(sđd., tr. 150 – 151).
++ Ngày 12 tháng 6 âl., Giáp thân (1884), Ưng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy niên hiệu Hàm Nghi. Ưng Lịch được sinh ra đời vào ngày 17 tháng 02 âl., Tự Đức năm thứ 24, Tân mùi (1871). Mẹ ruột của Ưng Lịch (Hàm Nghi) là Phan Thị Nhàn.
(sđd., tr. 153 – 154).
++ Vẫn như lệ trước, sắc dụ quy định: Mọi phiến tấu ở các nha 6 bộ và chương sớ bốn phương, trước hết phải do phụ chính Cơ mật viện đại thần (*) duyệt biện, rồi mới tấu lên cho vua nghe.
(sđd., tr. 154).
---- (*) Phụ chính Cơ mật viện đại thần gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật. ----
++ Lại bộ tả tham tri Bùi Ân Niên kiêm sung tham biện sự vụ Cơ mật viện; thự Binh bộ tả tham tri Nguyễn Thuật: quyền sung Nội các sự vụ. Đó là 2 người am luyện.
(sđd., tr. 155).
++ Thương bạc đại thần ở Cơ mật viện đưa thư về lễ tấn quang vua Hàm Nghi cho Lê Na (Rheinart) để y chuyển quan Mi Lô (Millot), gửi về quốc trưởng Pháp.
(sđd., tr. 155).
++ Khai phục nguyên hàm tổng đốc Định – An (Yên) cho Vũ Trọng Bình (ông đã về quê hưu trí, 72 tuổi [*]).
(sđd., tr. 156).
---- [*] Người biên soạn (Trần Xuân An) bổ sung (2004) vào bản in vi tính năm 2001: Sinh nhật 70 tuổi vào tháng 11 âl., Nhâm ngọ (1882). (Xem lại: ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 159 – 160). Tuy nhiên, theo một tư liệu gần đây, năm Giáp thân này, ông đã 74 tuổi ta (Lê Đình Lờng, Tạp chí Xưa & Nay, số 219, tháng 9-2004, tr. 30 – 31: Vũ [Võ] Trọng Bình, người làng Mỹ Lộc, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, sinh năm 1807, mất năm 1898, thọ 91 tuổi). Vũ (Võ) Trọng Bình nhận tặng phẩm vua Tự Đức ban vào năm Nhâm ngọ (1882), nhân sinh nhật 70 tuổi chẵn của mình. Chẳng lẽ Vũ Trọng Bình không rõ tuổi chính ông? Thời ông sống, cần gì phải khai sai lệch tuổi! Chắc hẳn ĐNTL.CB. chính xác hơn, ở chi tiết này. ----
++ Khâm sứ Pháp Lê Na (Rheinart) cùng quan quân vào điện Thái Hòa, dâng sớ và phẩm vật làm lễ tấn quang vua Hàm Nghi (lễ này đã được triều đình tiến hành rồi, nay Pháp ngang ngược ép buộc phải làm lại!). Lê Na (Rheinart) cũng trao quốc thư của quốc trưởng Pháp, và y lại yêu cầu cho quan quân Pháp vào đóng ở Trấn Bình đài (Mang Cá), vốn bị điều 5 của “hòa” ước Giáp thân 1884 xem là nhượng thổ! Triều đình đành chấp nhận.
(sđd., tr. 156 – 157).
++ Phụ chính đại thần bàn với Lê Na (Rheinart), thuê người Pháp quản đốc 3 chiếc thuyền của ta để chở gạo về kinh (bị điều 3 “hòa” ước Giáp thân [1884] ràng buộc!).
(sđd., tr. 157).
++ Thượng thư Pháp Sinh Bích (Silvestre) đòi triệt lính tỉnh, chỉ chừa lại lính tuần, lính lệ, phu trạm, ở 4 tỉnh Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 157).
++ Khai phục cho Nguyễn Hữu Độ, nhưng điều động về kinh làm biện lí Bộ Lại; điều chuyển Nguyễn Trọng Hợp thay Nguyễn Hữu Độ, làm quyền lí tổng đốc Hà – Ninh. Tướng Pháp Mi Lô hai lần thương thuyết, nên đành chuẩn cho cả hai viên quan này lưu lại chức cũ. Hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết trách Nguyễn Hữu Độ: “xem gió chuyển buồm” !
(sđd., tr. 157 – 158).
(xem lại: sđd., tr. 130 – 131).
Đến thời điểm này, bản chất cơ hội, tay sai của Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Trọng Hợp đã lộ rõ.
++ Cho Ê Mô Ni Ê (Aymonier) (*), người Pháp, du khảo bác vật (truyện dân gian, vật kiến tạo…). Viện – Bạc cấp giấy đi lại, trừ các chỗ cấm.
(sđd., tr. 158).
---- (*) Xem: Inrasara (sưu tầm, phiên dịch, giới thiệu), Văn học Chăm II – Trường ca, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1996, tr. 161 – 193: Ariya “Po Parơng” [“Quan lớn Pháp”] của Hơp Ai (tác giả người Chăm). ----
++ Tổ chức quân võ sinh, huấn luyện võ nghệ và bắn súng…
(sđd., tr. 158).
++ Ân khoa thi hương võ: chuẩn cho sang năm hợp với chính khoa, lấy thêm cử nhân, tú tài võ ở ngạch đỗ.
(sđd., tr. 158).
+++ Tháng bảy âl..
++ Tổ chức đàn chay ở chùa Linh Mụ (Huế) 7 ngày (cho vua Tự Đức).
(sđd., tr. 158).
++ Hà Nội và Mỹ Đức có những bọn cướp, nổi loạn (*). Cao Xuân Dục đánh dẹp đắc lực. Hoàng Cao Khải (tri huyện Thọ Xương, Hà Nội) phối hợp với Pháp để trấn áp. Cả hai đều được thăng hàm chức.
(sđd., tr. 159).
---- (*) Dương Hữu Quang (Tín Nghĩa hội) và Sô (So, phỉ, đã chuyển hóa, hướng thiện) được Hoàng Tá Viêm thu phục, đánh Pháp; Quốc sử quán đã ghi nhận (xem lại sđd., tr. 57). Nhưng vẫn có một số cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngoài vòng quản lí của triều đình, bị đánh đồng với bọn trộm cướp đích thực thừa thời cơ “nước đục thả câu”, “giậu đổ bìm leo” chăng?
Khác với các cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ, vốn được Tự Đức và đình thần đánh giá rất cao (như Trương Định và nhiều cuộc khởi nghĩa ở vùng đất này), chúng ta thấy các cuộc nổi dậy (nổi loạn? khởi nghĩa?trộm cướp?...) ở Đàng Ngoài luôn là mối âu lo cho triều Nguyễn
Nói chung, trên bình diện khái quát, để đánh giá đúng các cuộc nổi dậy trong lịch sử thời cổ đại, trung đại và cận – hiện đại, rất cần thiết phải căn cứ vào yêu cầu khách quan của bối cảnh lịch sử (Có cần phải nổi dậy hay không? Hay chỉ là sự nổi loạn cá nhân? “Thà chết vinh còn hơn sống nhục” cho dù manh động, không lượng được thời, thế, cơ?); căn cứ vào “ngọn cờ”, tuyên ngôn, khẩu hiệu (ở thời Nguyễn, là ngọn cờ phù Lê, “Bắc Kỳ thuộc Pháp”…) và đặc biệt là hoạt động cụ thể (có cướp của cải để tiêu xài, làm giàu, có hà hiếp người dân lương thiện hay không?), “thành phần” (xét dưới góc độ chủng tộc, tín ngưỡng [ở thời Nguyễn là tín ngưỡng Thiên Chúa giáo…]…) của các loại “giặc”, để từ đó, chắc hẳn phải xác minh cụ thể từng trường hợp một.
Dưới thời phong kiến cổ xưa nói chung vẫn có câu truyền miệng hầu như không một ai không biết: “Được làm [:là] vua, thua làm [:là] giặc”. Và vũ khí thời xưa, vẫn còn thô sơ (gươm, đao, dáo, mác…), rất dễ tự chế tạo để nổi dậy. Các cuộc nổi dậy ấy, có thể là chính nghĩa (chống giặc ngoại xâm), có thể chỉ là “giặc” nổi loạn (chống bọn thống trị tàn ác), chỉ là bọn cướp của giết người đích thực… Có những trường hợp xin xếp vào loại tồn nghi. ----

++ Đặng Đức Địch: thăng thụ Hình Bộ tả tham tri, quyền lãnh thượng thư, vẫn kiêm Sử quán toản tu.
(sđd., tr. 159).
++ Tu sửa đền đài miếu mạo ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 159 – 160).
++ Lễ Ninh lăng vua Kiến Phúc. Ban dụ.
(sđd., tr. 160 – 163).
++ Mở kinh diên (giảng sách cho vua). Phụ chính đại thần và giảng quan đến chầu giảng, vâng đợi vua hỏi han.
(sđd., tr. 163).
++ Ông Ích Khiêm phạm tội (*): tự tiện đem lính theo hộ tống (50 viên), lấy công nữ, đuổi cư dân để xây nhà riêng; do đó, bị chưởng ấn tâu hặc. Bộ Hình (do tham tri, biện lí hội đồng giữ ấn) nghị xử. Ông Ích Khiêm chết ở ngục Bình Thuận; được khai phục Hàn lâm viện thị độc và được cấp tuất.
(sđd., tr. 163 – 164) (**).
---- (*) Đối chiếu với “Đại Nam liệt truyện”, tập 4, sđd., tr. 281: vào tháng 5 âl., Giáp thân (1884).
(**) Xem trích đoạn nguyên văn ĐNTL.CB., sđd., số tr. đã ghi trên:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucII.htm
----

++ Tha và triển hạn binh, thuế cho các tỉnh Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 164 – 165).
++ Tu sửa Sơn phòng Dương Hòa (Quảng Nam). Đốc tiễu sứ, là tiến sĩ Trần Văn Dư (Trần Dư), xin tăng thêm việc chứa muối, gạo, cho thế lực tả kì thêm hùng hậu.
(sđd., tr. 165).
+++ Tháng tám âl..
++ Trương Quang Đản: thự lí tuần phủ Trị – Bình.
(sđd., tr. 165).
++ Ân khoa thi hương văn ở Thanh Hóa, Nghệ An.
(sđd., tr. 165).
++ Lễ tấn tôn tên thụy và tên hiệu cho vua Kiến Phúc. Dụ: “… Đương cho là mặt trời mới mọc, thị thính duy tân…”; sách văn: “… Buổi mặt trời mọc, biên đình [biên cương, triều đình] đa gian…”.
(sđd., tr. 165 – 169).
++ Dương Danh Lập, quyền tuần phủ Thái Nguyên, tự tiện nghỉ việc: về hưu. Thự thượng thư Bộ Công Đoàn Văn Hội can tội tọa biếm: về hưu (sau Đoàn Văn Hội lại ra làm quan thời ngụy vương Đồng Khánh!).
(sđd., tr. 169).
(xem lại: sđd., tr. 90 – 93).
++ Kỳ Phong công Hồng Đình (vốn có nhiều tội lỗi về đạo đức) phạm tội bất mãn, không chịu làm việc, bị trảm giam hậu; đang giam chờ xét, vụt chết trong tù. Khai phục.
(sđd., tr. 169 – 170).
++ Hồng Chuyên, Hồng Tu, đang bị giam giữ để đội lệnh (đội ơn lệnh tha hoặc chờ xét), nhưng cả hai thông đồng bẻ cùm, vượt ngục; lại bị bắt được; xử chém ngay.
(sđd., tr. 170).
++ Sét đánh cây tháp Phúc Duyên ở chùa Thiên Mụ (Linh Mụ), Huế.
(sđd., tr. 171).
+++ Tháng chín âl..
++ Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dời Dục Đức (Ưng Chân) xuống giam ở ngục Thừa Thiên từ tháng trước (tháng 8 âl., Giáp thân [1884]), không cho ở tại Viện Thái y nữa. Hai vị phụ chính tâu với vua Hàm Nghi: Gần đây, Hồng Đình, Hồng Chuyên (và cả Hồng Tu) đã vượt ngục được, do đó cần thủ tiêu Dục Đức ngay, kẻo trở ngại về sau. Và Dục Đức không được cho ăn uống; đến ngày mùng 6 tháng 9 âl. này, Dục Đức chết (vào giờ thìn [7 – 9 giờ sáng]). Người coi ngục cứ báo là tuyệt thực (để phản đối) mà chết. Nguyên phi và thứ thiếp cùng các con của Dục Đức vốn sống chung với Dục Đức ở Viện Thái y, nay đều cho về sống ở Phú Lương, Phú Xuân, được Phủ Thừa Thiên cấp lương tiêu dùng.
(sđd., tr. 172 – 173).
Căn cứ theo ĐNTL.CB., tập 36, sđd., số trang ghi trên, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết hạ lệnh thủ tiêu Dục Đức, đã có tâu trước với vua Hàm Nghi (15 tuổi âl., không ghi rõ vua có chuẩn cho hay không, nhưng trong thực tế chắc chắn là đã chuẩn y lời tâu) với lí do là để khỏi trở ngại về sau (Dục Đức mưu chiếm lại ngai vàng và đã thương cầu thân với Pháp; hoặc như vụ Hồng Bảo, Ưng Đạo (Đinh Đạo) thời Tự Đức, hoặc như gần đây, vụ Hiệp Hoà và Hồng Hưu [vụ Hồng Hưu đang được điều tra, nghị xử]). Nói gọn hơn là, hai vị phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết muốn giữ yên và giữ vững ngai vàng cho vua Hàm Nghi, nên phải loại trừ những nguy cơ, những mưu đồ lật đổ, tranh đoạt thường hay xảy ra dưới chế độ phong kiến quân chủ.
Xin lưu ý: Lâu nay có rất nhiều cuốn sách được viết ra bởi những người không chịu tra cứu cẩn trọng, cho rằng Dục Đức chết ngay sau ngày bị truất phế (tháng 6 âl., Quý mùi [1883])! Thật ra, đến tháng 9 âl. này, tức là sau một năm, gần tròn 3 tháng, Dục Đức mới chết.


_________________________

Phụ lục 1 của phần 2 chương tám:
Nguyên văn trong ĐNTL.CB. , tập 36, sđd., 1976, tr. 170 – 173, như sau:

“[Tiểu đề:] Giáp thân, năm Kiến Phúc thứ nhất [đời vua Hàm Nghi] (1884), tháng chín, mùa thu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết dời để vua mới nối ngôi là Thụy quốc công xuống ngục, rồi giết ngầm đi”.
“[Phần thuyết:] Tháng trước, [hai quan phụ chính đại thần Nguyễn] Văn Tường và [Tôn Thất] Thuyết tâu nói: “Gần đây Nha Vệ thành canh phòng hờ hững, nên tên [Hồng] Đình, [Hồng] Chuyên đã vượt được ngục. Vậy tự quân ở lâu Viện Thái y (nguyên tự quân trước bị giáng làm công tử, giam giữ ở đấy), cũng nên làm sớm đi, để khỏi sự trở ngại về sau. Xin chuyển dời sang nhà ngục phủ Thừa Thiên để giam giữ cho được cẩn mật.
Tâu lên, làm ngay.
Các con trai con gái đều cho theo về với mẹ, giao về quê ngoại quản thúc. Nguyên phi Phan thị (tức là hoàng thái hậu ngày nay) bèn cùng với người con thứ bảy (tức là vua bây giờ) [:vua Thành Thái, trị vì trong suốt thời điểm phần sử các kỉ IV, V được biên soạn], con thứ chín là Bảo Đóa (tức là hoàng tử thứ chín bây giờ) cùng về xã Phú Lương. Hoàng tử thứ mười là Bảo Khiêm theo sinh mẫu là Nguyên Văn thị về ngụ ở xã Phú Xuân. Hoàng tử thứ mười một là Bảo Lỗi còn ở trong bụng. (Tên các hoàng tử đều theo bộ “sơn”, lần này phải đổi theo bộ “thạch”; nay [thời vua Thành Thái] vẫn viết theo bộ “sơn”). Lương xướng do phủ Thừa Thiên đệ cấp.
Rồi hai người [:hai quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết] bí mật sai không cho tự quân ăn uống.
Đến ngày mồng sáu tháng ấy là ngày đinh mùi, giờ thìn, thì tự quân chết ở ngục. Người coi ngục cứ báo là chẳng ăn mà chết; bèn an táng ở cánh đồng xứ Tứ Tây, xã An Cựu, huyện Hương Thủy (nay [thời vua Thành Thái] dâng tên là An lăng)”.

(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 172 – 173).

________________________

++ Khâm sứ Lê Na (Rheinart) gửi văn thư: Pháp và Trung Hoa (nước Thanh) đã giảng hòa ở Yên Kinh [kí kết hiệp ước Thiên Tân], do nước Nga đứng ra điều đình. Viện – Bạc tâu lên vua.
(sđd., tr. 174).
Từ thời điểm này, Đại Nam nước ta không còn hậu thuẫn nước ngoài nào nữa, cũng không thể xây dựng căn cứ kháng chiến và hoạt động kháng chiến trên đất Trung Hoa, một Trung Hoa vốn bị xâu xé từ cuộc chiến tranh thuộc phiện lần thứ nhất và “hòa” ước Nam Kinh (1842), đến nay lại bại trận với tổn thất nặng nề trong cuộc chiến Pháp – Hoa (1883 – 1884).
Còn Chân Lạp, tức Cao Miên, vốn đã bị Pháp xâm lăng hẳn từ lâu trước đó (1864, 1884)! Miến Điện, Xiêm La, Ấn Độ, Mã Lai, Lữ Tống (Philippines)… cũng trong hoàn cảnh bị thực dân Phương Tây xâm chiếm tương tự!
Riêng về Lào, từ 1779, nước láng giềng này đã nằm dưới ách đô hộ tàn bạo của Xiêm La. Tình cảnh đó kéo dài mãi cả lúc Xiêm phải kí “hòa” ước với thực dân Anh vào tháng 4-1885; rồi tiếp theo đó, Lào trở thành miếng mồi bị Mỹ, Pháp, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Hà Lan… xâu xé. Tuy vậy, Xiêm vẫn còn đủ sức tàn để giữ chặt Lào. Do đó. Lào nằm dưới hai tầng ách!
Trong bối cảnh ấy, Pháp vẫn tiến hành thám hiểm sông Mê Kông (Khung Giang), vào năm 1858 – 1866. Cùng với các toán thực dân khoác áo khoa học (du khảo bác vật), chuẩn bị dùng khoa học làm phương tiện khai thác thuộc địa, Pháp vẫn còn dùng đến công cụ tâm linh – chính trị là tả đạo Thiên Chúa giáo. Đây là một bằng chứng trong ĐNTL.CB.:
“Năm ngoái, [Tôn Thất] Trường nghe hơi những dân giáo ở thượng du tụ họp, bèn phi hội với Sơn phòng sứ là Hồ Tư Cung, phó sứ Đỗ Huy Toản, phái người đi thám, có đúng, tức thì đến trong rừng rậm, làm bí mật cho mất tăm tích”, “giáo mục là Trần Lục hằng tới đến dinh sứ Pháp kêu xin tư xét…” (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 89 – 90).
Và đây là những lượng thông tin từ những nguồn tư liệu khác, về những vùng rừng Nghệ An, Thanh Hoá:
“Vốn có kinh nghiệm trong việc chinh phục vùng dân cư nghèo đói, lạc hậu, thực dân Pháp cũng tung các giáo sĩ sang Lào, tiến hành thâm nhập vào quần chúng. Tháng 01.1873, chúng phái hàng chục giáo sĩ sang Đông bắc Lào. Năm 1880, giám mục Puginier lại phái thêm ba mươi (30) giáo sĩ nữa. Cho đến năm 1883, bọn thực dân Pháp vác cây thánh giá đã tổ chức được đến năm ngàn (5.000) giáo dân ở miền Đông Lào. Những giáo sĩ nhiều khi đi theo đoàn quân làm sĩ quan tôn giáo, làm tên lính xung kích về tinh thần để chinh phục những vùng dân cư lạc hậu” (Võ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Võ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới (LSCĐTG.), quyển III, Nxb. ĐH. & THCN., 1985, tr. 238).
Vì vậy, Đại Nam muốn đặt căn cứ kháng chiến trên đất Lào, phải nối lại quan hệ thông sứ (hữu nghị) với Xiêm. Nhưng thực dân Pháp tìm mọi cách li gián (phái bộ Nguyễn Hiệp, tức là Nguyễn Trọng Biện, đã báo cáo tình hình ấy với vua Tự Đức từ 1879). Đã thế, thực dân Pháp và bọn gián điệp đội lốt Thiên Chúa giáo của chúng, như Phu Nhu Chi (Puginier), lại truyền bá tôn giáo để tạo nên một mạng lưới chỉ điểm khắp vùng rừng núi đông bắc Lào (giáp giới tỉnh Thanh Hóa…) và chắc chắn cả ở vùng Hạ Lào, tức là vùng đông nam Lào (giáp giới Quảng Trị…).
(Xem lại: ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 89, 137; tập 34, sđd., tr. 233 – 235; tập 36, sđd., tr. 89 – 90;
Xem thêm: Trần Trọng Kim, “Việt Nam sử lược”, Nxb. Tân Việt, bản in lần thứ 7, Sài Gòn, 1964, tr. 558: về tên Met Ding Giê (Metzinger) và cố đạo Toóc Tuy Dô (Tortuyeaux) trong việc truy kích vua Hàm Nghi).
Tuy nhiên, trong thực tế, vùng rừng núi Trường Sơn, vùng thượng du Bắc Kỳ (Việt Bắc…) và ngay cả đất Lào (bọn thực dân còn chưa kiểm soát chặt chẽ) vẫn là địa bàn kháng chiến tốt. Hơn nữa, hệ thống các sơn phòng và thượng đạo đã được thiết lập, chiến thuật du kích (không cậy vào đồn lũy) đã được Cơ mật viện xác định. Nguyễn Văn Tường đã có kế họach xây dựng Tân Sở (tị địa, nếu cần, cho tam cung và quan lại già yếu…). Vấn đề chủ chốt vẫn là nguồn viện trợ súng đạn hiện đại của thời bấy giờ và một hậu phương. Kháng chiến chống Pháp (và liên minh thực dân Âu Mỹ nói chung) không thể chỉ với gươm đao như Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh (Trung Hoa). Hậu phương lúc này chính là triều đình Huế!
Xin xem quốc kế “chia tách triều chính” ở phần viết về thời điểm tháng 5 đến tháng 7 âl., Ất dậu (1885)
.
++ Khâm sứ ở Huế, từ nay kiêm chức toàn quyền đại thần Bắc Kỳ. Lý Mai (Lô Mi Ơ, Lemaire) đến thay Lê Na (Rheinart).
(sđd., tr. 174).
++ Ân khoa thi hương văn: cho sĩ tử Hà Nội, Nam Định vào Thanh Hóa thi. Đốc thần Nam Định Phan Đình Bình tâu rằng, công sứ Pháp cản đường, bắt một số sĩ tử làm sai dịch, không cho tất cả vào Thanh Hóa thi; xin đợi làm trường thi Nam Định lại hẵng mở khoa thi. Dụ trách, giáng Phan Đình Bình nhưng cho quyền hộ, vẫn hộ đốc Nam Định; động viên sĩ tử Bắc Kỳ; tha tiền nợ sĩ tử vay khi thi (do bị cản đường, hết sạch tiền gạo, nên triều đình có chỉ dụ cho sĩ tử vay).
(sđd., tr. 174 – 176).
++ Trấn [:Chấn] Tĩnh quận công Miên Trí tâu hặc Gia Hưng vương Hồng Hưu (vốn đang là phụ chính thân thần) về tội loạn luân với công chúa Đồng Xuân (thông dâm sinh một bé gái) và tội nhân việc tư bỏ việc công, tiết lộ việc quan trọng của quốc gia, trong đó có bí mật quân cơ (“quân quốc trọng sự”). Tôn nhân phủ bàn xét, cùng phụ chính đại thần xét nghĩ, tạm giao cho Sở Túc vệ giam giữ, điều tra. Nay Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu bày để triều đình, tôn nhân cùng xét nghĩ một thể. Bản tâu do Tôn Thất Thuyết viết và đọc. Nội dung như sau:
Kiến Phúc mất. Vâng lời di chúc, hai phụ chính và tôn nhân, đình thần đã lập vua Hàm Nghi. Trước ngày Hàm Nghi đăng quang, Lê Na (Rheinart) cho kí lục Lê Duy Hinh đến dinh phụ chính nói: Lê Na (Rheinart) sẽ gây chuyện, bắt hết gia đình hai phụ chính để hành tội! Hai phụ chính vẫn làm lễ đăng quang cho vua Hàm Nghi, đồng thời bảo Hồng Hưu rằng, nếu Hồng Hưu không có mưu mô tiếm đoạt ngai vàng, thi Hồng Hưu nên báo với Lê Na (hienart) để ngưng lại sự ngăn trở lễ đăng quang cho bớt việc, đỡ rối, và Lê Na (Rheinart) cũng không nên tiếp tục mưu tính ngăn trở nữa, sinh ra hiềm khích giữa triều đình nước ta với Sứ quán Pháp. Nhưng Hồng Hưu đã có âm mưu tiếm đoạt ngai vàng từ lâu, nên không chịu báo cho Lê Na (Rheinart) yêu cầu của hai phụ chính như đã nói trên. Và về phía Lê Na (Rheinart), y thấy âm mưu đưa Hồng Hưu lên ngôi vua không thành, nên y gửi văn thư cho quan binh Pháp ở Bắc Kỳ. Ngày 22-6 âl. vừa rồi, tham tán Pháp ở Bắc Kỳ điểu động hơn mười chiếc tàu thủy quân sự, vào Sứ quán Pháp ở Huế, để đe dọa triều đình, toan muốn sinh chuyện, và lại đòi vào Thành nội đóng giữ ở Mang Cá. Hai quan phụ chính bất đắc dĩ phải nhân nhượng để ổn định ngôi vua cho Hàm Nghi. Cũng theo yêu cầu của thực dân Pháp, và cũng bất đắc dĩ phải chấp nhận yêu cầu của chúng cho ổn định ngai vàng, hai vị còn xin vua chuẩn cho Pháp vào triều yết kiến, ngoài việc cho quan quân Pháp vào đóng ở Mang Cá (Trấn Bình đài). Do mưu ma chước quỷ thất bại, Hồng Hưu nằm rền trong phủ, thác bệnh, không đi làm. Các hoàng thân đã biết sự thật đó. Chính ngay Trấn Tĩnh quận công vừa tố cáo, cũng do lòng công phẫn của quận công ấy. Hồng Hưu lại còn bị phát hiện loạn luân với công chúa Đồng Xuân, sinh một bé gái! Tội án nặng thế mà còn dằng dai. Lẽ ra phải xử trí ngay. Đến lúc ấy, Lý Mai (Lemaire) đến thay Lê Na (Rheinart), nhưng Lê Na (Rheinart) hiện vẫn còn ở tại cửa biển Thuận An (Huế). Y lại lên Sứ quán Pháp tại Huế, cho người tới dinh phụ chính, bảo hai phụ chính phải ra lệnh tha Hồng Hưu, nếu không y sẽ gửi điện tín về Pháp, không khỏi sinh chuyện lôi thôi!
Bản tâu của Tôn Thất Thuyết còn ghi rõ: “Hôm qua, tôi [tức là Tôn Thất Thuyết] và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán…”
Lúc đó Lê Na (Rheinart) đã về Pháp. Khâm sứ mới đến thay là Lý Mai (Lemaire). Lý Mai (Lemaire) nói rằng: Trước đây, về việc đăng quang vua Hàm Nghi và việc Hồng Hưu không được lên ngôi vua, có người (ám chỉ Lê Na [Rheinart]) không bằng lòng, đưa tin gièm pha triều đình Đại Nam, đặc biệt là hai phụ chính, đã nhiều. Chính phủ Pháp do đó cũng sinh ra lệch lạc. Hai phụ chính nên xử trí cho khéo. Vả lại, Pháp bảo hộ Đại Nam, không can dự việc triều chính. Chỉ có việc lớn là tấn tôn hoàng đế và phong chức phụ chính đại thần, nên cho khâm sứ Pháp biết. Vậy mới hợp thể. Sau đó khâm sứ Pháp sẽ gửi công văn về Pháp, hẳn chính phủ Pháp sẽ bằng lòng. Còn tội án của Hồng Hưu, triều đình Đại Nam xử đoán như thế nào, khâm sứ Pháp không dám bàn. Vả lại, Hồng Hưu là hoàng thân, chú của nhà vua, tất nhiên cùng chung nỗi vui niềm lo, càng không dám bàn tới.
Đó là lời Lý Mai (Lemaire)
Xem vậy – Tôn Thất Thuyết viết tiếp (người biên soạn tạm ghi chép lại) –, khâm sứ Pháp đã nói đã làm, thì việc đồng mưu chung chước, đã khó che đậy được. Tuy nhiên, triều đình đang có tang, lòng quan lòng dân chưa định tĩnh, Từ Dũ thái hoàng thái hậu, hoàng thái phi (trước đây là Học phi) đang lúc đau thương, hai phụ chính không dám vào tâu, nên nén lòng chiều theo bọn Pháp (trong việc triều yết, đóng quân ở Mang Cá để nên việc lớn. Nay Hồng Hưu can khoản tội ấy, thật đáng sợ. Do các sự thể đó, nên Viện Cơ mật đã làm tờ tư, theo đề nghị của Lý Mai (Lemaire), giao cho y (*). Và Viện cũng đem cái án Hồng Hưu ra, để Tôn nhân phủ nghị xử, xét mức án, cho thi hành hình phạt.
Bèn chuẩn như lời tâu của Tôn Thất Thuyết (đại diện hội đồng phụ chính).
Bản án đã thành. Hồng Hưu bị cách bỏ chức tước, phải đi an trí ở Cam Lộ (Quảng Trị). Nhà Hồng Hưu có 7 công tử, đều bị giáng làm Tôn Thất, chia đi 3 tỉnh an trí, và bị quản chế.
(sđd., tr. 176 – 178).
---- (*) Pháp trịch thượng muốn được tỏ rõ quyền “bảo hộ”! ----

________________

Phụ lục 2 của phần 2 chương tám:
Nguyên văn trong ĐNTL.CB. , tập 36, sđd., 1976, tr. 176 – 178, như sau:.

“[Tiểu đề:] Phụ chính thân thần Gia Hưng vương kiêm sung tôn nhân phủ hữu tôn chính Hồng Hưu bị tội, cách chức tước, phải an trí ở phủ Cam Lộ”.
“[Phần thuyết:] Trước đây, Chấn Tĩnh quận công là Miên Trí tâu hặc vương ấy vì nhân việc tư bỏ việc công, tiết lộ quân quốc trọng sự, gia dĩ thêm thói dâm dục (cùng với công chúa Đồng Xuân can tội tước tịch, đổi theo họ mẹ là Hồ Thị Đốc, thông gian sinh con). Mọi khoản giao cho Tôn nhân phủ hội đồng, phụ chính đại thần xét nghĩ; bèn giao Sở Túc vệ giam xét. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại đem đủ tình trạng vua ấy [:Gia Hưng vương] tâu bày, xin cùng xét nghĩ một thể.
(Tâu nói:
“Ngày tháng sáu, Giản tông Nghị hoàng đế [Kiến Phúc] mất, bọn chúng tôi vâng tuân lời di chúc, chọn lấy ngày mười ba (13) làm lễ tấn quang. Trước một ngày đó, sứ cũ Pháp là Lê Na [Rheinart] uỷ cho ký lục Hinh tới dinh bọn tôi nói: Nếu tôn Gia Hưng vương lên làm vua thì y thuận nghe, bằng không thế thì y gây chuyện, đem hết gia quyến bọn tôi bắt tội. Bọn tôi trộm nghĩ vì việc lớn của Nhà nước, không dám đoái riêng, một mặt cứ y ngày làm lễ tấn quang, một mặt nói với vương ấy, bằng không tình gì [:nếu không có tham vọng cướp ngôi vua], thì nên uỷ cho báo với sứ ấy đình chỉ [cho] bớt việc, đừng nên ngăn trở [việc tấn quang], sinh ngờ. Nhưng vương ấy để lòng đã lâu, không chịu uỷ báo cho sứ ấy. Chước đó không thành, [Rheinart] mới đưa thư cho quan binh ấy đóng ở miền Bắc [Millot]. Ngày 22 tháng ấy, quan tham tán đóng ở miền Bắc [Guerrier] xuất đem hơn mười (10) chiếc thuyền quân, đến Sứ quán đó. [Chúng] đe dọa, toan muốn sinh chuyện [với triều đình ta], và vào thành đóng giữ [tại Mang Cá]. Bọn tôi bất đắc dĩ phải nhấn nhún để định ngôi lớn, xin chuẩn cho quan ấy vào làm lễ tiến yết và cho quan binh ấy vào thành.
Từ đó đi, Hồng Hưu lấy bịnh nằm rền trong phủ đệ, không để ý gì đến việc công. Trong các hàng thân phiên đã có nhiều người cùng biết.
Chấn Tĩnh quận công thửa nói thế cũng do lòng công phẫn. Nay [vụ Hồng Hưu] phát ra việc này, tội án thật là sâu nặng, thế mà còn dám kéo dằng dai gần được một ngày. Lê Na [Rheinart đã có lệnh tạm thôi chức vụ khâm sứ, Lemaire thay thế, nhưng Rheinart còn chờ tàu] hiện đóng ở cửa đồn Thuận An, liền về [lại] Sứ quán, uỷ người tới dinh chúng tôi, bảo phải khoan tha cho Hồng Hưu về phủ, không thì y gửi điện về nước ấy, không khỏi lại sinh chuyện lôi thôi. Hôm qua tôi và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán ấy (Lê Na [Rheinart] về rồi), sứ mới [Lý Mai (Lemaire)] bảo rằng: “Trước đây về khoản làm lễ tấn tôn và việc Hồng Hưu, có người không bằng lòng (ám chỉ vào Lê Na [Rheinart]), đưa tin gièm pha đã nhiều. Nước ấy [:Pháp] hẳn cũng sinh lòng thiên lệch. Nay nên xử trí cho khéo. Vả, nước ấy bảo hộ quý quốc [:Đại Nam], việc triều đã chẳng hề can dự. Duy có việc lớn là lễ tấn tôn cùng với phụ chính đại thần đều là việc quan trọng, nên cho viên ấy [khâm sứ đương chức] dự biết, thế mới hợp thể, rồi về sẽ báo tin về nước ấy, hẳn sẽ bằng lòng. Còn tội án của Hồng Hưu, mặc dầu quý quốc xử đoán, viên ấy không dám nói các lẽ. Vả, Hồng Hưu hệ thuộc là người ý thân của nhà vua, chung lòng nghĩa vui lo”.
Xem như sứ Pháp thửa nói thửa làm, thì mối tình thông quan [loạn luân của Hồng Hưu, câu kết với Pháp], thực đã không thể che được, duy đương lúc Nhà nước có tang, lòng người chưa định, Cung [thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị, hoàng thái phi Nguyễn Văn thị] đương lúc đau thương, bọn tôi không dám vào tâu, sợ phiền lòng thánh lo nghĩ, mà làm cho dân chúng ngờ hoặc, [chỉ] nín náu lựa theo để nên việc lớn. Nay [Hồng Hưu] can khoản ấy, vốn không dung giết, mà còn dám như thế, thực đáng khá sợ. Bọn tôi cùng bàn, nghĩ theo lời xin của sứ mới, do Viện tôi nghĩ soạn tờ tư, đệ giao cho sứ ấy, và đem cái án của Hồng Hưu để tuân làm”).
Bèn chuẩn như lời tâu. Đến đây án thành, [Hồng Hưu phải bị] cách bỏ chức tước, phát đi an trí ở phủ Cam Lộ, Quảng Trị. Phòng (nhà) vương ấy [Gia Hưng vương Hồng Hưu] có bảy công tử, [bị] giáng làm tôn thất, chia giao cho các tỉnh quản thúc. (Tôn Thất Huy, Tôn Thất Diễn an trí ở Cam Lộ; Tôn Thất Chuân, Tôn Thất Dũng, giao về Nghệ An; Tôn Thất Linh, Tôn Thất Tân, Tôn Thất Vệ, giao về Hà Tĩnh)”.

(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 176 – 178).

______________________

++ Di chuyển trường thi Thừa Thiên đến địa phận hai xã La Chử, An Lưu (huyện Hương Trà) (vốn trước kia ở bên trái chùa Linh Mụ).
(sđd., tr. 178).
++ Hoài Đức quận công Miên Lâm: phụ chính thân thần (thay Hồng Hưu).
(sđd., tr. 178).
++ Lý Mai (Lemaire) vào triều yết.
(sđd., tr. 178).
++ Dụ cho Sơn Tây, Bắc Ninh sớm đưa dân về quê cũ, cày cấy làm ăn sau cơn giặc giã, trộm cướp.
(sđd., tr. 178 – 179).
++ Hưng Yên, Hải Dương: đổi cấy lúa mùa làm cấy lúa chiêm.
(sđd., tr. 179).
++ Bộ Hộ (Phạm Thận Duật) xin trảm quyết (chém ngay) tên buôn tiền giả Lý Thành Long. Phụ chính duyệt y. Cho thông lục đến các nơi, theo đó mà xử án. Tiếp đến, La Đậu, Phan Vu Hán bị chém ngay; Phù Định Tam: án chém nhưng cho giam đợi xét (trảm giam hậu). Đó là những con buôn người nước Thanh (Trung Hoa).
(sđd., tr. 179 – 180).
++ Giáng Kiên Giang quận công xuống Kiên Giang hầu. Tôn nhân phủ, Nội các tâu nghị. Phụ chính phúc duyệt xin y, nhưng gia ân cho các viên giảng tập vẫn tiếp tục dạy dỗ, chỉ có chức sư bảo kèm cặp vốn do Phạm Thận Duật phụ trách là giảm bớt, để Tôn nhân phủ thần hướng dẫn cho Ưng Kỹ.
(sđd., tr. 180 – 181).
+++ Tháng mười âl..
++ Chẩn cấp bão lụt ở Nam, Ngãi, Trị.
(sđd., tr. 181).
++ Nghị xử vụ kho bạc, kho thóc ở Thanh Hóa bị tham nhũng.
(sđd., tr. 181 – 182).
++ Định lệ tăng lương cho con trai, con gái của hoàng thân, vương công, tôn thất được bổ nhiệm và cư trú các nơi ngoài kinh đô (theo chức trách, hôn nhân và sở thích).
(sđd., tr. 182 – 183).
++ Lấy tiền thật ở kho đổi tiền giả dân lỡ dùng. Biện pháp này khó chu tất, nên phải cấm tiền giả. Bèn giảm mệnh giá tiền thật (loại 6, 7 phân) để tiền giả (đúc xấu hơn) bị dân loại trừ và bọn đúc tiền giả không đúc nữa vì không có lợi. Mặt khác, bọn chở tiền đồng thật của ta ra nước ngoài, không kể chở ít hay nhiều, khi quan quân bắt được, đều chuẩn cho chém ngay (trảm quyết). Đồng thời nâng giá vàng bạc, không được giảm giá dưới giá quy định. Lúc ban dụ thi hành, lại nảy sinh bọn hiếu sự đi rình rập những người đòi ăn của đút và cáo phát quan lại, làm rối việc, chợ búa không yên. Rồi việc dân gian mua bán vẫn trôi theo nếp cũ. Không thể định giá theo mệnh lệnh hành chính được.
(sđd., tr. 183 – 184).
++ Khởi phục cho Nguyễn Chính: hồng lô tự khanh, vẫn sung Sơn phòng sứ Hà Tĩnh.
(sđd., tr. 184).
++Tổ chức xây dựng thêm Sơn phòng Hà Tĩnh. Nguyên Sơn phòng này ở huyện Hương Khê, có thượng đạo thông Quảng Bình, Quảng Trị phía trong, thông Nghệ An, Thanh Hóa phía ngoài, và thông sang Xiêm La. Từ lúc bổ Nguyễn Chính về làm chánh Sơn phòng sứ ở đây, Nguyễn Chính với phó sứ Phan Trọng Mưu, tham biện Phan Đình Phùng đã vạch kế hoạch lớn, và Cơ mật viện chước định: Xây thành đắp lũy, dựng công đường, tư thất, kì đài, pháo đài…; phái vệ binh chia ban luân phiên đóng giữ; đặt súng…; lại đặt Nha Sơn phòng phó sứ ở Đổng Chi, mở đường thượng lộ…
(sđd., tr. 184 – 185).
++ Dời chuyển, tổ chức Nha Doanh điền Quảng Bình. Từ lúc Trần Văn Chuẩn được sung làm sứ ở đó, ông đã vạch kế hoạch xây dựng, mở đường thượng lộ thông với Sơn phòng Quảng Trị, Hà Tĩnh, cũng tương tự như kế hoạch Sơn phòng Hà Tĩnh.
(sđd., tr. 185).
Như vậy hệ thống Sơn phòng đã được nâng cao, mở rộng về quy mô và lực lượng: Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghê An, Thanh Hóa; và Ngãi – Định phía trong cũng vậy (do Nguyễn Thân, Đinh Hội phụ trách).
(Lúc này Nguyễn Thân chưa phản bội).

+++ Tháng mười một âl..
++ Khởi phục cho Lương Quy Chính: Hồng lô tự khanh, sung thương biện Nghệ An.
(sđd., tr. 186).
++ Đặt tuần phủ ở Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Yên (thống binh Pháp, khâm sứ Pháp bàn).
(sđd., tr. 188 – 189).
Vẫn mềm dẻo với Pháp!
++ Chúc mừng, đáp lễ Tết Tây, Tết ta theo lệ ngoại giao.
(sđd., tr. 189).
++ Cấp tuất và cho nhiêu ấm đối với quan quân thất lạc ở cửa Thuận An (Huế) vào các ngày 15 – 18 âl., Quý mùi (1883).
(sđd., tr. 189 – 190).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Tại nha 2 huyện Cam Môn, Cam Cát, ở Hà Tĩnh: đắp thành, cắm chông…
(sđd., tr. 190).
++ Ban ơn cho 4 nhân viên chủng ngừa đậu mùa ở Sứ quán Pháp.
(sđd., tr. 190).
++ Phạm Thận Duật, Hoàng Hữu Thường cùng Lý Mai (Lemaire) định thuế lệ về việc khai mỏ (theo điều 11 “hòa” ước Giáp thân 1884). Hai bên bàn qua bàn lại nhiều lần vẫn không ổn thỏa, rồi bỏ ngang.
(sđd., tr. 190).
++ Hà Văn Quan, tổng đốc Hải – Yên, bị Pháp nghi ngờ có thông đồng với giặc trốn đất Thanh (phỉ Tàu), do chúng nhặt đước thư giả. Lại bị giặc trốn bắt đi, thả về. Rõ là Hà Văn Quan bị kẹt giữa hai kẻ thù, nên phát ốm, xin về kinh chịu tội. Sau đó, thống binh Pháp, khâm sứ Pháp bàn, nên lưu chức.
(sđd., tr. 190 – 191).
++ Đình việc gia phong mĩ tự cho bách thần, vì xét đó chỉ là thói nịnh hót thần linh; chỉ phong tặng cho vị thần nào chưa được phong nhưng linh ứng, sự tích rõ ràng.
(sđd., tr. 191 – 192).
++ Thống binh Pháp dẫn hàng nghìn lính, với nhiều pháo thuyền, từ Hà Nội kéo đến Bắc Ninh, cùng quân Pháp các đồn ở đấy, tiến lên Lạng Sơn, đánh chiếm đồn Điều Vàng, Giản Hoàn của quân Thanh. Quan tỉnh vẫn để mặc cho Pháp và Hoa đánh nhau. Cơ mật viện ra lệnh dụ đã được chuẩn: Lã Xuân Uy và các quan khác về chức cũ.
(sđd., tr. 193).

43) Hàm Nghi năm thứ 1, Ất dậu (1885): 62 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Vẫn được triều Nguyễn và Quốc sử quán triều Nguyễn tôn vinh là chính thống, nên niên hiệu Hàm Nghi vẫn được ghi vào ĐNTL.CB., tập 36 (kỉ đệ ngũ).
(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 194).
++ Đầu xuân ban ân phong chức, thăng thưởng. Trong danh sách Bộ Lại dâng lên, không có tên thượng thư Bộ Lại Nguyễn Văn Tường.
(sđd., tr. 195 – 196).
Bởi lẽ Nguyễn Văn Tường đã được thăng hàm chức đến bậc cao nhất trong các phẩm trật quan trường. Thái sư là hàm vị cao nhất, thường chỉ để truy tặng cho công thần sau khi đã chết.
++ Tu chỉnh bộ “Dực tông Anh hoàng đế thực lục đệ tứ kỉ” . Nguyễn Thuật tuyên đọc lệnh dụ của vua Hàm Nghi.
(sđd., tr. 196 – 197) (*).
---- (*) Xem ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 57 và lời dụ, ban tâu đầu kỉ, ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr. 5 – 30. ----
++ Nguyễn Thuật: tuần phủ Thanh Hóa.
(sđd., tr. 197).
++ Pháp đến thu thuế thương chính ở Hải phòng Quảng Nam (thuế xuất nhập cảng và thuế thuốc phiện). Do đó, các hạng thuốc súng ở đồn cũ phải thu về tỉnh lị.
(sđd., tr. 197).
++ Khởi phục: nguyên hàm tổng đốc hưu trí Vũ Trọng Bình (một người nổi tiếng thẳng tính và thanh liêm) làm thượng thư Bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần; và do đó, chuyển đổi thượng thư ở Bộ Hình, điền khuyến ở Bộ Lễ. Nhưng thực dân Pháp không đồng ý (vì Vũ Trọng Bình đã đánh Pháp ở Nam Định, 1883). Vì vậy, Vũ Trọng Bình nhân đó dâng sớ từ chối, lại về hưu. Phạm Thận Duật vẫn làm thượng thư Bộ Hộ. Đặng Đức Địch: Bộ Lễ. Nguyễn Thành Ý: quyền giữ ấn triện Bộ Hình.
(sđd., tr. 197 – 198).
++ Người buôn nhà Thanh lại tung ra tiền giả. Bộ Hộ (Phạm Thận Duật) tâu xin không dùng. Nhưng Thừa Thiên và các tỉnh ở phía nam dùng lẫn lộn quá nhiều, nhất là ở dân nghèo. Đành chuẩn mệnh giá rất thấp: ngang 2 đồng tiền kẽm, để bọn làm tiền giả bất lợi, không đúc tiền giả nữa.
(sđd., tr. 198).
Thêm vào đó bọn gian thương lại chở tiền đồng thật ra nước ngoài!
Trước sự tấn công, phá rối thị trường và đời sống xã hội như vậy, dân gian lại tham lợi nhỏ, quên hại lớn (và cũng vì đồng tiền thật khan hiếm), nên biện pháp đối phó của triều đình (trong đó, Cơ mật viện, phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật) tỏ ra lúng túng, kém hiệu quả. Cũng xin lưu ý rằng, trong bọn gian thương ấy, có cả người Tây và chắc chắn thực dân Pháp là chủ chốt.

+++ Tháng hai âl..
++ Vua Hàm Nghi ốm, và cũng đã khỏe (suýt phải nhờ thầy thuốc Tây).
(sđd., tr. 198).
++ Tấn phong phụ chính thân thần Hoài Đức quận công Miên Lâm là Lạc quốc công; Hòa Thịnh quận công Miên Tuấn là Thịnh quốc công.
(sđd., tr. 198).
++ Đốc thần Trần Văn Chuẩn tâu xin, chuẩn cho Lương Quy Chính làm tuần phủ Nghệ An (vì việc nhiều, do sự phòng thủ khẩn thiết ở 2 phủ Tương Dương, Quỳ Châu).
(sđd., tr. 198).
++ Bang biện Ti Hành nhân Nguyễn Hoằng tuân lệnh đi Gia Định mua sách Tây: 412 quyển. Chuẩn giao cho Ti ấy dịch để học tập, ứng dụng.
(sđd., tr. 199).
++ Lý Mai (Lemaire) bàn triệt bỏ các cỗ súng trên thành của kinh đô vốn trỏ (chĩa) vào Sứ quán Pháp (bên kia sông Hương). Cơ mật viện, đình thần 2, 3 lần bàn bạc, vẫn không hợp ý thực dân Pháp (chúng vẫn ép buộc), bèn cho triệt (đóng kín cửa châu mai 45 cỗ, và rút các nơi quanh thành về, gom lại [súng ở các vị trí phòng thủ: Nam Xang, Bắc Trung, Trấn Bình đài]).
(sđd., tr. 199).
++ Lưu Cung: thủy sư đề đốc.
(sđd., tr. 199).
++ Năm ngoái, tại Lạng Sơn, thống binh Pháp Mi Lô (Millot) đánh bại quân Thanh. Sau đó, y về Hà Nội. Phái viên Cơ mật viện đem tặng vật đến biếu xã giao. Nay quân Thanh đánh bại quân Pháp cũng tại Lạng Sơn. Phó thống binh Pháp bị thương, lui về Hà Nội. Mi Lô (Millot) cũng đang ở Hà Nội, sắp trở về Pháp. Ta cũng đem tặng phẩm đến. Sinh Bích (Silvestre) không nhận, bắt lẽ, người tặng năm ngoái là đại viên (quan to), năm nay là thuộc viên (quan nhỏ, thuộc cấp). Phạm Thận Duật, Hoàng Hữu Thường đến Sứ quán Pháp tại Huế, nói với Lý Mai (Lemaire), thăm hỏi vui vẻ và biếu tặng (ngoại giao).
(sđd., tr. 199 – 200).
++ Pháp cải tạo, xây thêm thành lũy tỉnh Hải Dương.
(sđd., tr. 200).
++ Thống nhiếp Pháp La Lơ Ri Ê (La Leurier [?]) ngang ngược thu thuế hải quan và thuế thuốc phiện ở Bình Định, lại thu giữ, chở súng ống đạn dược của đồn Hải phòng ở đấy.
(sđd., tr. 200).
++ Đô thống tướng Pháp Cô Ra Xi (Đa La Câu Ra Xuy, De Courcy) thay Mi Lô (Millot). Y thông tư cho khâm sứ ở Huế bàn với triều đình chớ vội thay đổi quan lại Đại Nam ở Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 200 – 201).
++ Phụ chính và Bộ Hộ bàn định, cho rằng nhà giàu thường hay tích chứa tiền đồng, tiền kẽm; nay nên đem đến nha môn địa phương đổi lấy bạc theo giá thị trường, vì tiền bị cất trữ, không lưu thông, do đó vật giá vọt cao. Vua Hàm Nghi chuẩn. Nhưng thấy ít người đem tiền đổi bạc (kim loại) nhà nước (có lẽ không tiện dùng vì đồng tiền bằng bạc có mệnh giá lớn)!
(sđd., tr. 201).
++ Cam Môn, Cam Cát là hai huyện miền núi ở Thanh Hóa. Người Tiêm La (Xiêm) đến dò xét, điều tra dân số. Thêm vào, hai thổ dân là Mao (Hà Văn Mao?) và Tú lâu nay thường gây rối (về sau, Hà Văn Mao [?] lại khởi nghĩa chống Pháp?).
(sđd., tr. 201 – 202).
+++ Tháng ba âl..
++ Tấn tôn Từ Dũ thái hoàng thái hậu (vâng theo di chiếu của vua Tự Đức). Ban ân chiếu.
(sđd., tr. 204 – 208).
++ Đúc sách vàng tấn tôn hoàng thái hậu Vũ thị và hoàng thái phi (trước đây là học phi Nguyễn thị).
(sđd., tr. 208).
++ Tướng Pháp Cô Ra Xi (De Courcy) bàn đặt 2 vệ lính tập ở Hà Nội; các tỉnh Bắc Kỳ lần lượt cũng thế. Pháp huấn luyện, ta trả lương để ta điều động. Có thể Pháp có phụ cấp thêm.
(sđd., tr. 208).
(xem lại: sđd., tr. 130 – 131).
++ Đặt trường diễn võ ở các dinh tại kinh.
(sđd., tr. 209).
++ Trương Văn Đễ (thị lang Bộ Binh): thăng thự tham tri Bộ Binh.
(sđd., tr. 209).
++ Phái viên Pháp bắt thự tổng đốc Hà Văn Quan, lại ngang ngược vây dinh thự, cả nơi ở của phó lãnh binh, đoạt các sổ sách, cướp kho tàng. Chúng đem Hà Văn Quan xuống tàu chở vào Gia Định. Cơ mật viện báo cho Lý Mai (Lemaire) biết. Lý Mai (Lemaire) đáp văn thư: Cô Ra Xi (De Courcy) ngờ Hà Văn Quan thông đồng với quân Thanh, còn các thứ cưỡng đoạt ở tỉnh ấy, Pháp sẽ trả lại.
(sđd., tr. 209).
++ Võ Duyệt, Bùi Hanh đi vào Nam, ra Bắc truyền bá phương pháp chủng ngừa đậu mùa.
(sđd., tr. 209).
++ Thị lang quyền tổng lí tổng đốc Hà – Ninh Nguyễn Hữu Độ ngày càng vượt quyền, nịnh hót Pháp và bố trí tay chân, dựa vào Pháp. Do đó, có dụ khiển trách, không nên nghe theo lời Pháp, phải tâu về kinh chờ chỉ; vả lại, tổng đốc 2 tỉnh sao dám vượt quyền bao trùm cả Bắc Kỳ ?!?
Lời dụ còn chỉ rõ, thời gian trước, vì chiến tranh đang diễn ra, triều đình nhân nhượng nên bố trí quan chức phải thông tư cho Pháp biết trước (theo “hòa” ước Quý mùi 1883). Nay “hòa” ước đã đổi, hãy căn cứ vào “hòa” ước 1884. Nếu Pháp tự tiện, thì đừng dự vào.
Tay chân của Nguyễn Hữu Độ là Hoàng Cao Khải và Nguyễn Huy Lân.
(sđd., tr. 210).
+++ Tháng tư âl..
++ Ân khoa thi hội về văn.
(sđd., tr. 211).
++ Thự tổng đốc An – Tĩnh Trần Văn Chuẩn (người Quảng Bình) mất. Trần Văn Chuẩn được bổ nhiệm, làm việc theo mật dụ (lén làm, “lậu giữ”) rất được sĩ dân ở đấy yêu mến. Vua Hàm Nghi cho cấp tuất, rước đưa lính cữu về quê.
(sđd., tr. 211).
++ Lại cấp ruộng tự điền (để thu hoa lợi, chi cho việc thờ cúng) và ruộng lộc điền (để thêm lộc ngoài lương bổng, nhằm dưỡng liêm, dưỡng thiệm: đủ ăn, khỏi sinh thói tham ô, tránh bị đút lót), cho các công thần.
(sđd., tr. 211 – 212).
++ Dụ định giá tiền giả hồi cuối tháng giêng âl., tháng 2 âl., khi đi vào thực tiễn thị trường xã hội, gây ra sự vọt giá hàng hóa. Do đó, Bộ Hộ đã được chuẩn cho việc ra thông tư tham khảo ý kiến các tỉnh, từ Nghệ vào Bình Thuận (Bắc Kỳ chưa lưu hành tiền đồng, chỉ dùng tiền kẽm). Nay Cơ mật viện tập hợp các ý kiến, vận dụng nguyên lí tiền tệ bấy giờ (mệnh giá = giá vật liệu kim loại [đồng hay kẽm] + công thợ + nhiên liệu để đúc) nhằm điều chỉnh dụ trước. Quyết nghị: Tiền đồng thật = 6 đồng tiền kẽm; tiền đồng giả = 3 đồng tiền kẽm. Kèm với quyết nghị ấy là biện pháp hình luật. Tức là dùng biện pháp kinh tế để khắc phục, loại trừ sự phá rối về tài chánh, đi đôi với biện pháp trừng phạt bằng hình án.
(sđd., tr. 212 – 213).
++ Nguyễn Hữu Độ, tổng đốc Hà – Ninh (quyền lí), đã xây sinh từ (đền thờ người còn sống mà có sự nghiệp, công lao to lớn)! Quan Khoa đạo Bùi Hữu Tạo tâu hặc. Nguyễn Hữu Độ dâng tập tâu xin lỗi, cho rằng nhân dân Hà Nội tự nguyện quyên góp xây sinh từ để thờ sống y, vì yêu quý y (!). Bùi Hữu Tạo tâu: Thực ra, là do sự nịnh hót của Hoàng Cao Khải và Trương Văn Hậu; hai tên quan này cưỡng bức thân hào phủ huyện để moi tiền xây sinh từ ấy. Có lệnh dụ phải điều tra. Hai quan bố chính, án sát Hà Nội – Bắc Ninh là Lê Đĩnh, Cao Xuân Dục tâu: Do tên thứ dân (thường dân) Võ Văn Hoạt xướng làm; Võ Văn Hoạt tự khai nhận. Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cho rằng: Võ Văn Hoạt chỉ là người thường dân bị làm vật hi sinh, chịu tội thay cho bọn nịnh hót và tự sùng bái. Và vụ việc chưa xét xử được, còn dở dang, thì xảy ra cuộc Kinh đô quật khởi và thất thủ!
(sđd., tr. 213 – 214).
++ Tham Bô (De Champeaux) đến thay, Lý Mai (Lemaire) về nước. Tham Bô (De Champeaux) gửi văn thư: Pháp và Hoa đã kí kết hiệp ước giảng hòa ở Yên Kinh (Trung Hoa), vào ngày 28-4 âl., Ất dậu (1885) vừa rồi (*). Tham Bô (De Champeaux) còn thông tư: Khâm sai nhà Thanh đã đi khắp các tỉnh biên giới Đại Nam để hiểu thị, rút quân Thanh về nước. Đồng thời, y đề nghị triều đình nước ta nghị xử bố chánh sứ Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp, người đã cầm quân đánh Pháp ở Hưng Hóa – Tuyên Quang. Triều đình đồng ý “chiếu lệ”, qua loa. Không biết Nguyễn Văn Giáp ở đâu!
(sđd., tr. 214 – 215).
---- (*) Trước đây là “tạm ước Phuốc Ni Ê [Fournier]” (xem lại sđd., tr. 127, tr. 174); nay là “hiệp ước Thiên Tân” chính thức. Đó là chưa kể “Quy ước đình chiến tại Ba Lê (Paris)” [19-2 âl., Ất dậu = 04-04-1885]. ----
+++ Tháng năm âl. (*).
---- (*) Từ đây, người biên soạn (Trần Xuân An) sẽ lược ghi tất cả các chi tiết, cho dù nhỏ nhất, vì đây là thời điểm hệ trọng: Bước ngoặt lịch sử. ----
++ Trần Văn Chuẩn mất, nay Trần Lưu Huệ thay: thự tuần phủ, lãnh tổng đốc, tại Nghệ An.
(sđd., tr. 216).
++ Thự Hình bộ tả tham tri Nguyễn Thành Ý ốm, xin về nghỉ: hưu trí.
(sđd., tr. 216).
++ Đô thống tướng Pháp kiêm quản quân binh Nam – Bắc Kỳ sung toàn quyền đại thần (chỉ huy cả khâm sứ ở Huế): Cô Ra Xi (De Courcy). Cô Ra Xi (De Courcy) khi mới đến Bắc Kỳ, đã gửi ngay văn thư cho Tham Bô (De Champeaux). Nay y lại đem một số lớn binh thuyền đến Thuận An (Huế). Vua Hàm Nghi cho hộ tiếp y đến Sứ quán Pháp tại kinh đô nước ta.
(sđd., tr. 216).
++ Ngày mùng 5 tháng 5 âl., Tết Đoan ngọ.
(sđd., tr. 216).
++ Viện – Bạc tâu: Xin gửi thư sang quốc trưởng Pháp. Trước hết, gửi thư thăm dò qua Tham Bô (De Champeaux), nhờ y chuyển. Nội dung thư chính thức sẽ cho sú bộ mang đi, trực tiếp gửi quốc trưởng Pháp:
1. Pháp không thực hiện đúng “hòa” ước Giáp thân 1884.
2. Một số điều khoản ở “hòa” ước Giáp thân 1884 là không thể chịu được; đề nghị sửa đổi.
Còn thư gửi trước, qua Tham Bô (De Champeaux), chỉ là lời lẽ xã giao (tình giao hảo, hòa nghị lâu dài). Ngay văn thư này cũng đóng ấn, niêm phong trước mặt vua Hàm Nghi. (Nhưng, rồi sau… Pháp không trả lời).
(sđd., tr. 217).
++ Tiết Thiên thu.
(sđd., tr. 218).
++ Thi điện. Hồ Văn Hiển: giám thí; Phạm Thận Duật, Hoàng Hữu Thường: độc quyển; Vũ Tử Văn, Đỗ Huy Liệu: duyệt quyển.
(Chưa kịp truyền lô, gặp Kinh đô quật khởi và thất thủ).
(sđd., tr. 218).
++ Tiết Khánh thọ.
(sđd., tr. 218).
++ Đặt đề đốc ở cửa biển Bình Định. Quan lãnh binh Lê Viết Diễn: thự phó đề đốc lãnh chức đề đốc.
(sđd., tr. 218).
++ Chuẩn bị cho Lễ Đại tường, Lễ Chu cơ.
(sđd., tr. 218 – 219).
++ Tổ chức, tạo lập Nha Dinh điền Quảng Trị. Vua Hàm Nghi mới chuẩn y, chưa kịp tiến hành.
(sđd., tr. 219).
++ Ngày Ất mão, 23 tháng 5 âl., Ất dậu (05-7-1885). “Tôn Thất Thuyết kèm vua, vâng mệnh tam cung; ngự giá chạy ra Miền Bắc” (nguyên văn câu tiểu đề) (*), do cuộc Kinh đô quật khởi thất bại.
---- (*) Sự phân công cho Tôn Thất Thuyết (cơ mật viện tâu xin, được tam cung (gồm 3 vị: thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị [Trung phi], hoàng thái phi Nguyễn thị [Học phi]) chuẩn y: Tôn Thất Thuyết “vâng mệnh” . ----
1. Trước đó, Cô Ra Xi (De Courcy) đến Sứ quán, xin dâng quốc thư, làm lễ chầu yết. Y yêu cầu Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết sang Sứ quán Pháp (bên kia sông Hương) để hội thương trước.
2. Tôn Thất Thuyết thác bệnh, không đi. Nhưng Nguyễn Văn Tường và Phạm Thật Duật không thể tránh việc được, do đó, cùng đi, qua gặp Cô Ra Xi (De Courcy). Y cố mời cho bằng được Tôn Thất Thuyết, không chịu việc Tôn Thất Thuyết cáo bệnh! Tôn Thất Thuyết biết có việc không hay xảy ra, nên cho quân Phấn Nghĩa bảo vệ mình, đồng thời ra nghiêm lệnh cho quân lính các doanh vệ khác cùng chuẩn bị khí giới. Nguyễn Văn Tường và đình thần cho rằng đó cũng là thanh thế để đấu tranh với Pháp, buộc Pháp phải chùn tay và để tăng cường phòng bị.
3. “Cuộc Nghĩa cử” (nguyên văn): Kinh đô quật khởi, khuya 22 rạng ngày 23 tháng 5 âl., Ất dậu (khuya 04 rạng ngày 05-07-1885) nổ ra.

Hết phần 2 của CHƯƠNG TÁM
Xin xem tiếp PHẦN 3 chương tám
ở tệp 10, cũng trên web-blog này:
http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/


Xem thêm: khảo luận “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05-7-1885” ở website:
http://tranxuananp-trphu.blogspot.com/

Xếp chữ xong phần 2 chương tám, vào lúc 20 giờ 25 phút,
ngày thứ năm (thứ sáu cũ) 17-02 HB6 ( 2006 )
[20 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.

Trần Xuân An

16.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KÌ VĨ PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 8)


TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”

(tiếp theo)
(Tệp 8)
(chương tám / phần 1 / còn tiếp)


H. CHƯƠNG TÁM (phần 1)

XIX. THỜI LÀM ĐẠI THẦN PHỤ CHÍNH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN KHÂM THIÊN GIÁM, TỔNG TÀI QUỐC SỬ QUÁN (THÁI TỬ THÁI PHÓ, THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ HẦU TƯỚC)


++ Ưng Đăng (húy là Hạo, tự là Hỗ), sinh ngày mùng 2 tháng giêng âl., Kỉ tị (1870), con của Kiên Thái vương Hồng Hợi và phủ thiếp Bùi Thị Thanh (người Đồng Dương, Hải Lăng, Quảng Trị). Năm 1871, Ưng Đăng được đưa vào cung, do Học phi Nguyễn thị (họ Nguyễn [tên Hương]) nuôi dưỡng. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết khi lập Ưng Đăng lên làm vua, đã tâu: “Đó là ý của tiên đế, nay là mệnh trời. Xin nghĩ lấy tôn miếu, xã tắc làm trọng” . Tôn nhân, đình thần đã xin ý chỉ Từ Dũ; và Từ Dũ đã chấp thuận. Đây là sự nối ngôi chính thống vì Ưng Đăng đã là hoàng tử chính thức thứ ba của Tự Đức (*).
(ĐNTL.CB., tập 36 [**], sđd., tr. 18 – 20).
---- (*) Triều Kiến Phúc (Ưng Đăng) được Quốc sử quán xếp vào một kỉ riêng – đệ ngũ kỉ –, xem như ngang hàng với Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức về mặt chính thống. Dục Đức (hoàng trưởng tử, vi phạm luật pháp, bị truất), Hiệp Hòa (vi phạm luật pháp; không phải hoàng tử của Tự Đức) và cả Hàm Nghi (nhà vua yêu nước, nhưng không phải hoàng tử) chỉ thuộc về “phụ chép”
[**] ĐNTL.CB. đệ ngũ kỉ chỉ gồm một tập duy nhất (bản Nxb. KHXH.). ----

+++ Tháng mười một âl..
++ Ngày mùng một âl., niên hiệu Tự Đức thứ 36 (Quý mùi [1883]), Ưng Đăng (áo mũ hoàng đế chưa kịp may, mặc áo thêu con mãng) nhận tỉ ngọc ấn truyền quốc, vì “tiên đế đã định lòng kén chọn” (nguyên văn).
(sđd., tr. 20).
++ Ngày mùng 3 âl., Ưng Đăng lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa; nhà vua ban ân chiếu.
(sđd., tr. 22 – 28).
++ Gia Hưng quận vương Hồng Hưu: phụ chính thân đại thần (*). Tờ tâu của các nha thuộc 6 bộ, ở Các (Nội các…) phải được Hồng Hưu duyệt, xong rồi mới chuyển giao đến Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết duyệt lại để tâu lên vua.
(sđd., tr. 28 – 29) (**).
---- (*) Xin lưu ý: Phụ chính thân đại thần (người thuộc hoàng tộc đảm nhiệm) khác với phụ chính đại thần (các vị quan thuộc bách tính, có uy tín, tài năng).
(**) Từ đây, người biên soạn khảo sát Nguyễn Văn Tường trong tất cả các lĩnh vực của triều chính. ----

++ Nguyễn Văn Tường: kiêm quảm Khâm thiên giám, Quốc sử quán tổng tài.
(sđd., tr. 29).
++ Phụ chính đại thần tâu chuẩn (thay vua): Hết tang mới ra chính điện nghe chính sự; nay nhà vua chỉ ngự ở điện Văn Minh.
(sđd., tr. 31).
++ Bộ phận Thương bạc trong Cơ mật viện viết thư báo cho Tham Bô (De Champeaux) về lễ đăng quang, để y chuyển vào Súy phủ Pháp tại Gia Định và chuyển về quốc trưởng Pháp tại Ba Lê (Paris).
(sđd., tr. 32).
++ Giặc Pháp bấy giờ đòi đỗ thường xuyên 2, 3 chiếc tàu binh ở cửa biển Thuận An (Huế) với 3.400 tên lính, nhằm phong tỏa cửa biển ấy. Pháp tịch thu khí giới của thuyền đồng nước ta (đỗ tại Đà Nẵng, Quảng Nam). Do đó, các quan Thương bạc của Cơ mật viện đi thương thuyết để tàu thuyền ta được vào cửa Thuận An (Huế)!
(sđd., tr. 32 – 33).
++ Quan phụ chính tâu xin cách chức một số thị vệ.
(sđd., tr. 33).
++ Gia ơn khoan giảm có thứ bậc cho các quan bị nghị xử do để thất thủ thành Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, đồn lũy Thuận An (1882, 1883); vì cớ lúc đó đường lối chiến hay hòa chưa xác định, tình hình diễn biến quá bất ngờ, việc phòng thủ có khó khăn, nên ra đặc ân giảm tội đến mức thấp nhất” (nguyên văn). Cho chép ngay tên tuổi tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu vào sổ để thờ ở đền Trung Nghĩa.
(sđd., tr. 33 – 35).
++ Thăng thưởng cho các quan và binh lính có công lao nghênh lập, làm việc mẫn cán, theo đề nghị của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường: Ông Ích Khiêm, Chu Đình Kế, Tôn Thất Phan, Nguyễn [Thượng] Phiên, Tôn Thất Triệt, Tôn Thất Lương Thành, Tôn Thất Thế, Trương Văn Đễ, Hồ Văn Hiển, Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Trang…
(sđd., tr. 35 – 37).

XX. THỜI TÂU XIN TƯỚC BỎ HÀM TƯỚC MỚI ĐƯỢC HIỆP HÒA GIA PHONG (THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ HẦU TƯỚC)

++ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết xin truất tước hàm do Hiệp Hòa phong cho hai vị.
(sđd., tr. 38).
++ Tôn Thất Triệt: lãnh tuần phủ Trị – Bình.
(sđd., tr. 38).
++ Vua Kiến Phúc tâu lên và được ý chỉ của thái hoàng thái hậu Từ Dũ chuẩn y, nên tấn tôn Khiêm hoàng hậu làm hoàng thái hậu, Học phi làm hoàng thái phi (như đã tấn tôn mẹ ruột Hiệp Hòa trước đây).
(sđd., tr. 38 – 39).
++ Dụ triệt thoái binh tướng tại Bắc Kỳ về kinh đô (Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Ngô Tất Ninh, Nguyễn Thiện Thuật…): Các doanh đoàn nước Thanh (Trung Hoa) nói rằng làm thanh viện cho lực lượng quân ta ở Bắc Kỳ, kì thực là chỉ để bảo vệ vững phên giậu của họ. Cơ mật viện cho rằng, nước ta đứng giữa hai nước lớn Hoa – Pháp, do đó, chi bằng cứ giữ trung lập, để hai nước lớn ấy hành động. Dụ của Kiến Phúc xuất phát từ tình thế: Hà A Mang (Harmand, toàn quyền Bắc Kỳ) tuyên bố sẽ đánh nước Thanh (Trung Hoa), đề nghị quân Đại Nam không được thông đồng với quân Thanh. Hà A Mang (Harmand) còn đòi cách chức các quan ta ở Bắc Kỳ. Nguyễn Trọng Hợp nói thêm: “Chấp nhận tai họa nên chọn cái nào nhẹ” và cũng xin cho rút quân ta về, vì Nguyễn Trọng Hợp thấy rằng, như thế, có thể đỡ sinh sự ra! Cơ mật viện lại tâu xin cứ giữ lí của mình mà bác bỏ đòi hỏi “phi lí trái tình” (nguyên văn) của giặc Pháp (cách chức quan nước ta), nhưng vẫn triệt thoái quân binh để quan tỉnh ở lại làm việc, chỉ rút các quan quân thứ về.
Sau đó các quan tỉnh vẫn làm bạn trú (đồng minh cùng trú quân) với quân Thanh, như Tạ Hiện, Phạm Vụ Mẫn, Hoàng Văn Hòe…
(sđd., tr. 39 – 42).
++ Tháng 9 âl., Quý mùi (1883), trước đây, Hà A Mang (Harmand) đã đặt chức công sứ lưu trú; thuốc súng, tiền thóc, sổ sách, chúng đều tịch thu; chúng lại đánh tri phủ, đòi thu thuế của dân. Giặc Pháp ngày càng ngang ngược. Ở xã Phát Diệm, linh mục Trần Lục thông mưu với sứ Pháp. Y chiêu mộ giáo dân Thiên Chúa giáo và hàng nghìn tên vô lại. Y cho người chặn đường trạm, cướp công văn. Đường trạm phải tạm đặt ở nẻo khác. Cơ mật viện: Chuẩn cho quan tỉnh Ninh Bình phối hợp với Nha Sơn phòng, không được hành động vô nguyên tắc. Nhưng công văn chưa đến, ngày 11-9 âl., Quý mùi (1883) các quan tỉnh đã bỏ đi theo quân Thanh.
(sđd., tr. 43 – 44).
++ Lập sứ bộ mang tờ biểu sang nước Thanh (Trung Hoa) và đề nghị tiếp tục sai cống sứ sang. Nhưng Pháp đòi ta phải tuyệt giao với nước Thanh nên sứ bộ dừng lại.
(sđd., tr. 45).
++ Nguyễn Văn Tường lưu lại kinh đô để gìn giữ, Tôn Thất Thuyết lên Khiêm lăng, trong dịp đại lễ ở Đinh lăng.
(sđd., tr. 47 – 48).
++ Giặc Pháp đánh thành tỉnh Sơn Tây. Trước đây, Pháp tiến đánh, đều bị đẩy lùi. Lần này, Pháp tăng cường đến 7.000 lính (có cả lính Ả Rập ở châu Phi, lính Nam Kỳ, lính ma tà Thiên Chúa giáo, giáo dân vô lại), chở phu ở thuyền buôn trưng dụng rất đông, 15 tàu thuyền, vài trăm chiếc chiến xa có đại bác. Tất cả lính của giặc Pháp đều cầm súng, không cầm cờ và dáo nhọn. Ngày 15 âl., Pháp tấn công. Hai bên giao chiến từ giờ mão (5 – 7 giờ sáng) đến giờ dậu (17 – 19 giờ chiều tối). Quân Lưu Vĩnh Phúc, Đoàn dũng (*), và quân Đường Cảnh Tùng (nước Thanh)… đánh thắng nhiều lần (300 lính Pháp chết). Tối, liên quân bên ta rút vào thành. Pháp vẫn tấn công suốt đêm đến sáng. Giặc Pháp và ngụy các loại chết khá nhiều. Ngày 16, vẫn giằng co. Ngày 17, Pháp tập trung đánh cửa bắc của thành Sơn Tây. Lưu Vĩnh Phúc vượt thành tiếp chiến; Pháp lùi. Chiều tối (giờ dậu), cửa bắc bị quân trong thành sợ hãi mà phá vỡ. Sớm ngày 18 âl., Pháp chiếm thành Sơn Tây.
Quân Thanh, quân ta chia ra đóng ở các nơi.
Cơ mật viện tâu bàn: Nghiêm khắc khiển trách và xin ra lệnh dụ, các quan quân thứ, quan tỉnh phải đến sát hạt Sơn Tây, tụ tập lại binh dân của tỉnh (**).
(sđd., tr. 48 – 50).
---- (*) Đoàn dũng, Đoàn luyện chỉ là tên của các đoàn quân thuộc quyền Lưu Vĩnh Phúc, chứ không phải tên một người chỉ huy.
(**) Dụ triệt thoái trước chi là để đối phó với Pháp. Dụ này lại tập hợp quân thứ để chiến đấu, sau khi sự cố phế lập ở triều đình đã ổn. ----

++ Nghị xử và kết án các hoàng thân, công tôn, tùy theo mức phạm pháp. Miên Trinh, Miên Tằng, Miên Triệu tự nhận là nghe nhầm Hồng Tham (Sâm), Hồng Tu… “dẫn đến cuồng vọng” (nguyên văn). Sau khi bị giáng chức tước, ba công, hầu hoàng tộc này được đưa đi an trí ở Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
(sđd., tr. 54 – 55).
+++ Tháng mười hai âl..
++ Lệnh dụ cho đặt lại hương binh ở phía bắc và phía nam kinh đô.
(sđd., tr. 57).
++ Tri huyện Dương Hữu Quang (người Hà Nội) lập “Tín Nghĩa hội” ở Ứng Hòa, Thanh Oai. Bọn phỉ do tên So cầm đầu đã đi theo hội này. Hoàng Tá Viêm xét rõ, tâu vào triều. Bèn có lệnh dụ thu nhận vào cơ số quân ta.
(sđd., tr. 57).
++ Lệnh dụ cho quân địa phương đi lên các nha sơn phòng để canh giữ, đồn trú; cho các tù phạm đã phân loại đến khai khẩn ở Sơn phòng Quảng Trị.
(sđd., tr. 57).
++ Xây dựng đê công Đặng Xá, Xuân Bình ở tỉnh Hưng Yên.
(sđd., tr. 57).
++ Đạo Bình (tức là đạo Tôn vương, Tả, Gia Tô, các tên khác nhau của Thiên Chúa giáo [*]) ở Thừa Thiên chưa ổn định, trong những ngày đầu Kiến Phúc lên ngôi. Vua đã ra dụ trấn an. Một thời gian sau, Tham Bô (De Champeaux) gửi văn thư, xin đem lính phủ bảo vệ giáo dân ở hai xã Thanh Tân, Sơn Quả. Triều đình chuẩn y. Công tử Hồng Thành vẫn chiêu tập đảng “sát tả” , tấn công Dương Hòa thuộc huyện Hương Trà. Đành phải bắt giam, nghị án. Triều đình lại thông báo cho sĩ dân Quảng Trị và các hạt từ Nam chí Bắc rõ. Nội dung: Chiến hay hòa là do triều đình quyết định; đạo Bình vẫn là dân nước Đại Nam; không nên chia rẽ lương, giáo.
(sđd., tr. 58 – 59) (**).
---- (*) Chú thích trên có lẽ nhầm. Đạo và Bình: giáo dân và bình dân? Xin xem ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 122 – 123. Hai từ này đối nhau: dân có giáo hóa (giáo dân) và dân có lòng hòa hảo (bình dân). Có lẽ “Dụ đạo Bình” phải hiểu là “Dụ Đạo [và] Bình”, “Dụ Đạo – Bình”, tức là dụ cho giáo dân và bình dân (dân lương từ 1874 đã được gọi là bình dân với nghĩa trên). ----
++ Tháng trước (tức tháng 11 âl., Quý mùi [1883]), Hà A Mang (Harmand) cùng Nguyễn Trọng Hợp từ Bắc về Đà Nẵng. Đức Lí Cố (Lý Cố, Tricou) đến thay Hà A Mang (Hà Truất Mang, Harmand). Trần Doãn Khánh (biện lí), Đinh Việt Tân (phủ thừa), Nguyễn Hữu Cư (tham biện) đến cửa Thuận An đón tiếp. Trước đây, vua Hiệp Hòa chuẩn cho quan Thương bạc của Cơ mật viện (Nguyễn Trọng Hợp) hội bàn với Hà A Mang (Harmand) “hòa” ước 27 khoản (Quý mùi [1883]). “Hòa” ước này có nhiều khoản không thể chịu được. Hà A Mang (Harmand) sau đó ra Bắc Kỳ cùng với các công sứ Pháp, hoành hành ngang ngược. Sĩ dân nước ta không thể yên lòng. Tội ác của Hà A Mang (Harmand) và bọn thực dân Pháp: không trả thành Hà Nội hẳn; đánh chiếm Ninh Bình, Quảng Yên, Hưng Yên (tuần phủ bị bắt, bị đánh; đề đốc bị truy nã; phủ huyện bị buộc phải yên lặng đợi chiếu chỉ của Hiệp Hòa; kho súng đạn bị phá, kho bạc bị cướp, sổ sách đinh điền bị xé bỏ…), khiến sĩ dân, quan chức phẫn nộ, có người tự vẫn, có người nạp ấn, bỏ quan, truyền hịch khởi binh, có chỗ đánh Pháp, giết phái đoàn Pháp… Tất cả do toàn quyền Hà A Mang (Harmand) gây ra. Nay Lý Cố (Tricou) đến thay Hà A Mang (Harmand). Y đến trú tại Sứ quán Huế. Triều đình gửi văn thư, yêu cầu mọi điều phải hợp công pháp. Lý Cố (Tricou) được vào triều yết vua, trao đổi thư giao ước. Y sẽ mang thư về Ba Lê (Paris) để quốc trưởng Pháp xét nghĩ.
Sau đó y ra Bắc Kỳ rồi về Pháp.
(sđd., tr. 62 – 63).
++ Vào thời điểm kí kết “hòa” ước Hà A Mang (harmand) – Trần Đình Túc (và Nguyễn Trọng Hợp), tháng 7 âl., Quý mùi (1883), Tôn Thất Thuyết lập Phấn Nghĩa quân. Nguyễn Văn Tường đồng ý và cho phép. Tôn Thất Thuyết còn thương lượng với Nguyễn Văn Tường trong thời điểm trước sự biến đêm 29-10 âl. và ngày 30-10 al., Quý mùi (1883): phế Hiệp Hòa, lập Kiến Phúc. Triều thần dự doán, biết trước sự biến và hưởng ứng, giao cho con em đi vận động sĩ dân gia nhập Phấn Nghĩa quân. Đến nay, đội quân Phấn Nghĩa càng được tăng cường, chấn chỉnh, do Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết ủy nhiệm cho những vị quan mà hai phụ chính chọn lựa. Tôn Thất Thuyết giao cho Trần Xuân Soạn thống lĩnh.
(sđd., tr. 63 – 64).
++ Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản báo cáo thuyền tàu Pháp quấy nhiễu, bọn Hán gian tụ tập, hò hét; do đó, xin chi viện quân, bổ sung quan võ. Tôn Thất Thuyết hứa cho, và vẫn ra lệnh ai nấy đều tự ra sức đánh giặc để tránh khó khăn sau này.
(sđd., tr. 64).
++ Giải chức, chờ lệnh: Nguyễn Trọng Hợp, Trần Văn Chuẩn (về kinh đô nhận tội vì thương thuyết không được gì).
(sđd., tr. 64).
++ 69 xã thôn điêu tàn ở Bình Định được hoãn việc tuyển lính.
(sđd., tr. 64).
++ Tôn Thất Thuyết: thượng thư Bộ Lại kiêm quản lí Binh bộ sự vụ, Văn ban phò mã.
(sđd., tr. 64).
Lúc này, chính Nguyễn Văn Tường đã đích thân ra Cam Lộ để trực tiếp thiết kế, đốc công xây dựng căn cứ địa Tân Sở. Do đó, hầu như việc triều chính, ông đã giao hết cho Tôn Thất Thuyết. Tuy nhiên, Tân Sở (Quảng Trị) và kinh đô Huế (Thừa Thiên) chỉ cách nhau một ngày đường (70 – 90 km), nên Nguyễn Văn Tường vẫn có thể vào ra.
++ Nha Sơn phòng và phủ Cam Lộ (Quảng Trị) di chuyển từ xứ Động Ngang (huyện Thành Hóa đến xã Bảng Sơn (cũng thuộc huyện này). Cơ mật viện: “Sơn phòng Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô” (nguyên văn). Tân Sở được ráo riết xây dựng: Đắp thành, đào hào, xây kho súng, dựng nhà ở và nhà làm việc cho quan văn võ…; đặt ra kì hạn mua muối để nhận diện kẻ lạ mặt; đặt cơ Can Thiện để cai quản chặt chẽ tù phạm khẩn hoang ở nơi này, kể cả việc phòng tránh nạn hổ (cọp); lập đồn Động Chu; khai quặng sắt để tiện việc đúc, rèn; mở hai thượng lộ, nam thông kinh phủ (Huế), bắc thông Quảng Trị (Sơn phòng Quảng Bình?); đem vàng, bạc, thuốc súng ra trữ ở đó.
Việc kinh lí, do tỉnh thần kiêm quản.
Khâm sứ Pháp cho người đến do thám, bảo để vẽ bản đồ!
(Tất nhiên, triều đình có cách đối phó với giặc Pháp!) .
(sđd., tr. 64 – 66).
++ Cấp tiền gạo cho vợ con Lưu Vĩnh Phúc, quân Đoàn dũng và viên tử trận Dương Trước (Trứ) Ân.
(sđd., tr. 66).
++ Lệnh dụ kiểm tra lại các doanh vệ biền binh kinh đô, chấn chỉnh để tăng cường lực lượng.
(sđd., tr. 66 – 67).
++ Phủ Ứng Hòa (Hà Nội) gần đây nổi lên bọn phỉ. Cao Xuân Dục đánh dẹp, được thăng tri phủ.
(sđd., tr. 68).
++ Trần Tiễn Thành được khẳng định là do “cướp” giết chết. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết xin giáng Trần Tiễn Thành xuống hàm thượng thư Bộ Binh, và vẫn được cấp tuất.
(sđd., tr. 68).
++ Tham Bô (De Champeaux) viết thư: Xin cấm dân cười giễu lính Pháp và đừng chăn trâu bò quanh khu vực Sứ quán.
(sđd., tr. 69).
++ Lập lộ giới ngăn Khiêm cung.
(sđd., tr. 69).
(xem lại: tập 35, sđd., tr. 243).
++ Ban tế trong tang sự phế đế Hiệp Hòa.
(sđd., tr. 69).
++ Miễn, khoan giảm thuế cho Thanh Hóa và vài tỉnh Bắc Kỳ.
(sđd., tr. 69).
++ Nguyễn Xuân Phiếu và lính thợ thử chế súng Hoa Kỳ và vải thô Tây; được thưởng vì thành công.
(sđd., tr. 69).
++ Tuần phủ Hà Tĩnh – Nghệ An: Trần Lưu Huệ. Hộ đốc Trần Nhượng bị Bộ Lại (Tôn Thất Thuyết) chê trách là nịnh hót Nguyễn Chính…, nên bị giáng, điều chuyển về kinh đô…
(sđd., tr. 70).
++ Biện lí Bộ Binh Trương Văn Đễ sung làm khâm phái ra Bình, Tĩnh, An, Thanh trấn áp mầm mống rối loạn; lưu lại Thanh Hóa điều đình với đạo Bình (Thiên Chúa giáo) (*). Các tỉnh ấy hiện có tàu Pháp đỗ; giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo ngầm xin Pháp viện trợ! Sợ rằng sẽ xảy ra vụ biến như ở Ninh Bình, các quan tỉnh di chuyển kho tàng, hiểu bảo giáo dân.
(sđd., tr. 71).
---- (*) Có lẽ là Đạo – Bình (giáo – lương). Xem lại chú thích về “Dụ Đạo – Bình” (sđd., tr. 58 – 59), cũng thuộc mục tháng 12 âl., Quý mùi (1883) này. ----
++ Đoàn Văn Hội, Hoàng Hữu Thường, Lê Cơ sung làm khâm sai ra Bắc khu xử, động viên nghĩa quân. Lúc ấy, Tham Bô (De Champeaux) viết thư: Đờ Li Cô (Đức Lí Cố ? Tricou ? hay Bichot ?) đến Bắc Kỳ bàn với Cô Phi Nghiệp (Courbet ?) để ra lệnh cho các công sứ Pháp đều không được động tĩnh. Tuy vậy, các quan tỉnh vẫn không muốn làm việc, nên trộm cướp nổi lên. Do đó, đoàn khâm sai ra Bắc.
(sđd., tr. 71).
++ Tháng trước (11 âl., Quý mùi [1883]), công sứ Pháp ở Ninh Bình ngang ngược, tàn ác; hộ phủ Tôn Thất Úy phải đến ở tại Sơn phòng. Nguyễn Trọng Hợp và Nguyễn Hữu Độ (tổng đốc Hà – Ninh) tùy tiện đặt quan chức. Nguyễn Hữu Độ còn bảo: Chờ công sứ Pháp cấp ấn cho! (*) Cơ mật viện khiển trách: Nói như thế thật khó nghe. Tham Bô (De Champeaux) đành phải viết thư khẳng định công sứ các tỉnh không dự vào việc bổ nhiệm quan chức tỉnh. Nhưng rốt cục, do Pháp vẫn cố tình gây trở ngại, Tôn Thất Úy cũng không về tỉnh lị.
(sđd., tr. 72 – 73).
---- (*) Bản chất tay sai của Nguyễn Hữu Độ đã lộ rõ. ----
++ Từ lúc Sơn Tây có sự biến, trộm cướp nổi lên như ong. Hoàng Tá Viêm lập tức được lệnh dụ do Cơ mật viện tấu chuẩn: Phải về đóng ở đó, giữ yên địa hạt.
(sđd., tr. 73).
++ Từ lúc Sơn Tây thất thủ, các quan tỉnh không về lị sở. Tướng Pháp Cô Bi (Courbet) thúc giục Nguyễn Hữu Độ đặt quan chức. Nguyễn Hữu Độ chọn Nguyễn Khuyến (nhà thơ, tam nguyên), Thành Ngọc Uẩn. Hai ông không nhận chức. Nguyễn Hữu Độ lại đặt tú tài theo Thiên Chúa giáo là Nguyễn Trần Cáp và lại điển xuất thân không có chữ nghĩa Nguyễn Hậu (do Pháp cử) làm quan chức. Cơ mật viện không phê chuẩn, thương lượng với Tham Bô (De Champeaux) để y viết thư cho Cô Bi (Courbet), ngưng việc bổ nhiệm ấy. Đoàn Văn Hội cử Nguyễn Trọng Hợp.
(sđd., tr. 74 – 75).
++ Từ Diên Húc (quan chức Trung Hoa) sang Lạng Sơn.
(sđd., tr. 75).

41) Kiến Phúc năm thứ 1, Giáp thân (1884): 61 tuổi.
+++ Tháng giêng âl..
++ Sứ bộ Phạm Thận Duật, Nguyễn Thuật từ Thiên Tân (Trung Hoa) về nước (đi từ tháng 12 âl., Nhâm ngọ [1882]). Phạm Thận Duật: vẫn thượng thư Bộ Hình; Nguyễn Thuật: thăng thự Binh bộ hữu tham tri.
(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 76 – 77).
++ Răn trị bọn lại mọt ở Thừa Thiên (Bộ Hộ, Bộ Hình điều tra, xét án).
(sđd., tr. 77).
++ Tháng 7 âl., tháng 11 âl., Quý mùi (1883) trước đây, triều đình đã điều động võ sinh, võ cử các tỉnh tả hữu trực kì, Hà Tĩnh, Bình Định, Quảng Ngãi về kinh. Nay cho về quê.
(sđd., tr. 78).
++ Ba Rô (Pha Rô, Parreau) sang thay Tham Bô (De Champeaux) làm khâm sứ ở kinh đô Huế.
(sđd., tr. 78).
++ Sửa sang bốn mặt kinh thành và đài Trấn bình (Mang Cá).
(sđd., tr. 80).

XXI. THỜI LÀM ĐẠI THẦN PHỤ CHÍNH, THƯỢNG THƯ BỘ LẠI, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC (HÀM HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ, TƯỚC HIỆU KÌ VĨ BÁ)

++ Tôn Thất Thuyết: lãnh thượng thư Bộ Binh; Nguyễn Văn Tường: lãnh thượng thư Bộ Lại; Phạm Thật Duật: thượng thư Bộ Hộ.
(sđd., tr. 80).
++ Vũ Trọng Bình: thương biện tỉnh vụ Nghệ An; Nguyễn Chính: Sơn phòng sứ Hà Tĩnh; Nguyễn Trọng Hợp: phó Sơn phòng Thanh Hóa; Trần Văn Chuẩn: dinh điền sứ Quảng Bình; Bùi Ân Niên: tả tham tri Bộ Lại.
(sđd., tr. 80 – 81).
++ Phạm Thận Duật: kiêm sung Quốc sử quán phó tổng tài, đại thần kiêm quản Quốc tử giám.
(sđd., tr. 81).
++ Cô Bi (Courbet) về nước (*), Mi Lô (Millot) sang thay (**).
(sđd., tr. 81).
---- (*) Chính xác hơn, Cô Bi (Courbet) rời khỏi Bắc Kỳ, để sang đánh Phúc Châu, Đài Loan (Trung Hoa), nhằm làm sức ép với nhà Thanh, tiến đến kí kết điều ước Hoa – Pháp 1884, 1885. Xin xem thêm phần sau.
(**) Courbet là tướng chỉ huy lực lượng thủy quân Pháp. Millot Tướng bộ binh Pháp. ----

++ Hiệu chỉnh ĐNTL.CB. đệ tứ kỉ (bản thảo chỉ mới lược chép theo thể thức sách Đông Hoa) (*).
(sđd., tr. 81).
---- (*) Triều Đồng Khánh (1886 – 1888), bỏ hết, làm lại bản thảo này. Triều Thành Thái (1889 – 1907), lại biên soạn thêm một lần nữa. ----
++ Dụ: Triệu dùng tiến sĩ, phó bảng và ấn quan còn tại quán (ở quê).
(sđd., tr. 81 – 82).
++ Dụ: Khuyên các quan khắp nước; nhân đó, kể tên một số quan lại lạm quyền, tự tiện bổ nhiệm quan chức, muốn khắc ấn để tự làm việc (Nguyễn Hữu Độ, Trần Nhượng, Cao Hữu Sung, Nguyễn Khắc Vỹ).
(sđd., tr. 83 – 84).
+++ Tháng hai âl..
++ Định lệ chọn người làm phó quản đốc tàu thủy: Từ nay, phải dùng người có học vị từ cử nhân đến tiến sĩ để ra nước ngoài, vì những người đó mới có đủ trình độ nhận xét, thu thập.
(sđd., tr. 85).

XXII. THỜI LÀM ĐẠI THẦN PHỤ CHÍNH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, THƯỢNG THƯ BỘ LẠI, KINH DIÊN GIẢNG QUAN (THÁI PHÓ, CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, VĨ QUỐC HUÂN THẦN, KÌ VĨ QUẬN CÔNG)

++ Nguyễn Văn Tường: thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, Vĩ Quốc huân thần, Kì Vĩ quận công; Tôn Thất Thuyết: hiệp biện đại học sĩ, Vệ Quốc thượng tướng quân, Vệ Chính hầu; Hồng Hưu: Gia Hưng vương (*).
(sđd., tr. 88 – 89).
---- (*) Nhất tự vương: tước chỉ một chữ “vương” là bậc tước cao nhất và chỉ dành cho hoàng thân. ----
++ Nghị xử vụ sát tả (giết giáo dân Thiên Chúa giáo) ở Thanh Hóa (do Tôn Thất Trường, Hồ Tư Cung, Đỗ Huy Toản, Hà Văn Mao… tiến hành) vì linh mục Trần Lục đến dinh sứ Pháp kêu xin tư xét. Dụ chẩn cấp người bị hại.
(sđd., tr. 89 – 90) (*).
---- (*) Theo Aldophe Delvaux (linh mục Pháp), trong “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des amis du vieux Hué), 1916, tập 3, sđd., tr. 57 – 58, 64, vụ án này được nghị xử qua loa rồi cho ỉm đi; thậm chí Delvaux còn cho rằng Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chỉ đạo ngầm vụ sát tả này. Nếu quả như vậy, thì đó là bọn tội phạm đội lốt Thiên Chúa giáo để cướp nước (Tây) và bán nước (ta). Xin xem mục tháng 9 âl., Giáp thân (1884), những dòng chữ chú giải cho thỏa ước Yên Kinh giữa Pháp và Hoa (sđd., tr. 174); mục tháng 5 âl., Ất dậu (1885), chú thích từ “giáo dân”. ----
++ Quyền tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Úy bị công sứ Pháp bắt. Chuẩn cho về kinh.
(sđd., tr. 90).
++ Công sứ Pháp giữ Phạm Hy Lượng làm tuần phủ, không cho Nguyễn Văn Thi nhận chức. Triều đình bèn không đặt chức tuần phủ ở tỉnh ấy nữa (vô hiệu hóa Phạm Hy Lượng).
(sđd., tr. 90).
++ Tướng Pháp Mi Lô (Millot) tiến đánh quân Thanh ở tỉnh Bắc Ninh, rồi tiến chiếm Thái Nguyên. Tàu thuyền giặc Pháp, gồm cả lớn, nhỏ, hơn 40 chiếc, 200 con ngựa, sáu đến bảy nghìn (6.000 – 7.000) quân; ngoài ra, có nhiều thuyền buôn trưng dụng chở thuốc đạn, lính mộ. Pháp tập họp thuyền binh ở Bắc Ninh.
Thành lũy treo cờ Đại Thanh (Trung Hoa). Triệu Ốc ở ngoài thành. Hoàng Quế Lan ở phía trong. Tổng đốc Trương Quang Đản (nước ta) theo lệnh triều đình Đại Nam: trung lập; hiện đem quân tình nguyện đi theo quân thứ cũ, đóng ở Nghi Vệ, huyện Tiên Du.
Ngày 10 tháng 02 âl., Giáp thân (1884), Pháp tấn công, chiếm được 7 đồn. Ngày 13 kế tiếp, Lưu Vĩnh Phúc từ Hưng Hóa kéo quân về. Hai hôm sau, ngày 15, trận chiến vẫn giằng co. Pháp thả khí cầu làm tín hiệu lui quân vào ban trưa. Chiều, pháp lại tấn công. Quân Thanh vỡ, lui về Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hóa. Quân Lưu Vĩnh Phúc và quân Thanh lần này không chi viện cho nhau, do đó, quân Pháp sấn được vào thành.
Quân Trương Quang Đản từ Tiên Du trở về tỉnh thành. Quân Thanh cản lại. Trương Quang Đản, Đoàn Văn Hội, hai người ở hai nơi làm 2 tập tâu, đệ gửi về kinh đô Huế. Pháp cho Dương Danh Lập (*) làm tổng đốc. Triều đình Đại Nam bàn lấy Nguyễn Tu là quyền biện tổng đốc.
Trương Quang Đản và các quan quân thứ cũ được lệnh chuẩn cho về kinh.
Quân Pháp lại cho kị binh tiến lên Thái Nguyên, đánh với quân Thanh. Trong chốc lát, quân Thanh rút về Hưng Hóa. Nguyễn Quang Khoan (thủ úy) bị bắn.
Ngày 22 tháng 02 âl., Giáp thân (1884), quân Pháp vào thành Thái Nguyên vơ vét của cải, sổ sách, chở về Bắc Ninh. Pháp cử Dương Danh Lập (*) làm quyền tuần phủ. Với chức này, triều đình Đại Nam chuẩn y cho.
(sđd., tr. 90 – 93).
---- (*) Về Dương Danh Lập, một kẻ được giặc Pháp cất nhắc, xin xem thêm: sđd., tr. 169. ----
+++ Tháng ba âl..
++ Các châu ở Thành Hóa (Quảng Trị) kính đệ phẩm nghi.
(sđd., tr. 94 – 95).
++ Phạm Thận Duật kiêm sung sư bảo phủ Kiên Giang quận công (Ưng Kỹ).
(sđd., tr. 95).
++ Định lại lệ thi hương văn, thi hương võ, thi hội võ.
(sđd., tr. 95 – 98).
++ Đặt đồn ở núi Dũng Quyết, tỉnh Nghệ An.
(sđd., tr. 98).
++ Mở kinh diên (*) ở điện Vũ Hiển. Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật: kinh diên giảng quan; Bùi Ân Niên, Nguyễn Thuật, Nguyễn Thượng Phiên, Lê Duy Thụy: giảng quan hàng ngày.
(sđd., tr. 98 – 99).
---- (*) Kinh diên: Lớp học để bồi dưỡng kiến thức và năng lực trị vì, dành cho các vị vua còn nhỏ, còn trẻ tuổi như Kiến Phúc. ----
++ Bọn gian và phỉ Thanh thông đồng.
(sđd., tr. 99).
++ Dụ cho Nguyễn Hữu Độ phái người dẹp phỉ. Một viên quan không được cấp dưới tuân lệnh, bèn tự sát. Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Xuân Ruẩn xử án sai về vụ này, bị giáng, đổi.
(sđd., tr. 99 – 100).
++ Quân Lưu Vĩnh Phúc trước đây giở thói hung tàn với dân 3 xã ở Sơn Tây. Nay dụ cho Hoàng Tá Viêm: Bảo Lưu Vĩnh Phúc phải kiểm thúc quân lính. Đồng thời, dụ chẩn cứu dân bị hại.
(sđd., tr. 100).
++ Kỳ ngoại hầu Hồng Chuyên (anh Hồng Thành, con trai Trấn Định công Miên Niết [Miêu]) xui đồ đảng giả trang làm quan quân vào cướp nhà cố thượng thư Trần Tiễn Thành (*). Hoãn quyết, giam.
(sđd., tr. 101).
---- (*) Trần Tiễn Thành đã bị Hồng Hàn, Hồng Tế, Hồng Chức giết năm ngoái, nay nhà lại bị cướp! ----
++ Miễn thuế cho thuyền chở gạo đến các tỉnh trực kì.
(sđd., tr. 101).
++ Khắc in sách do sứ bộ (Nguyễn Thuật) mang về.
(sđd., tr. 101).
++ Định lệ thi hội, thi đình văn.
(sđd., tr. 101 – 103).
++ Pháp đánh chiếm Hưng Hóa. Quân Thanh và quân ta đều đã rút. Quân Lưu Vĩnh Phúc giao chiến với Pháp vào ngày 14 tháng 3 âl., Giáp thân (1884). Đến giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa), súng lớn của Pháp nổ liên thanh. Lưu Vĩnh Phúc thua, dẫn quân rút. Ngày 17, giặc Pháp vào thành, phá hủy, vơ vét của cải.
Lệnh chuẩn cho Hoàng Tá Viêm, Lương Tư Thứ, Ngô Tất Ninh, Nguyễn Đình Nhuận ở quân thứ Sơn Tây và Nguyễn Quang Bích về kinh.
Nguyễn Quang Bích nộp ấn, lên rừng, rồi mất.
Hoàng Tá Viêm về Quảng Bình (chánh quán), gửi ấn, cờ tiết vào kinh.
Nguyễn Đình Nhuận sang Trung Hoa. Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thiện Thuật cũng đều từ biệt, đi mất.
(sđd., tr. 103 – 105).
++ Định lệ cho người đánh Pháp, chết trận, được truy thăng chức, con cháu được nhiêu ấm.
(sđd., tr. 105 – 108).
+++ Tháng tư âl. (*).
---- (*) Trong tháng này, ngày 18 âl., Pháp và Trung Hoa kí tạm ước Fournier – Lý Hồng Chương. -----
++ Mở khoa thi hội văn học.
(sđd., tr. 108).
++ Vua Kiến Phúc se mình. Một tháng sau, vua lại khỏe.
(sđd., tr. 108).
++ Pháp đặt quan chức ở Tây – Bắc (Sơn Tây – Bắc Ninh) là người thổ trước (người địa phương). Đoàn Văn Hội tâu lên. Cơ mật viện: Quyền nghi, nhưng phải là người có nho học, không can án kiện; Pháp thiên lệch, thì không được khinh suất nghe lời, mà phải tranh biện.
(sđd., tr. 108 – 109).
---- (*) Trái với luật (đúng ra phải do triều đình bổ nhiệm) và trái lệ, đặc biệt là lệ hồi tị (không bổ nhiệm người địa phương làm quan chức tại bản quán). ----
++ Đinh Tử Lượng xét hạch, kén chọn võ sinh làm biền binh.
(sđd., tr. 110).
+++ Tháng năm âl..
++ Từ nay, không kiểm tra định kì mà kiểm tra đột xuất binh trượng ở các quân doanh và mật kiểm lính mộ ở kinh.
(sđd., tr. 111 – 112).
++ Ba tháng trước, Hoàng Thủ Trung thuộc đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc đem 2.000 quân rút về Hưng Hóa, làm dữ, bắt tuần phủ Hoàng Tướng Hiệp, cướp kho tàng, sổ sách, bắn chết thông phán. Nay Pháp đem quan tỉnh đã trốn được về lại Hưng Hóa. Pháp và quân Hoàng Thủ Trung đánh nhau dai dẳng đến 6 tháng trời. Pháp cố giữ để chờ quân viện. Hoàng Tướng Hiệp bị Hoàng Thủ Trung ép sang Tàu, rồi chết (về sau, ngụy triều Đồng Khánh truy thăng).
(sđd., tr. 112).
++ Toàn quyền đại thần của giặc Pháp là Ba Đức Na (Pa Tờ Nô, Patenôtre) và giám đốc Lê Na (Rheinart) định ước mới. Nguyên vào tháng 12 âl., năm ngoái, Quý mùi (1883), triều đình Đại Nam nước ta đã gửi quốc thư sang Pháp, yêu cầu xem lại “hòa” ước Quý mùi (1883). Ngày 04-04 âl., năm nay, Giáp thân (1884), Ba Đức Na (Patenôtre) từ Pháp khởi hành sang, và đã báo cho ta biết.
Phạm Thận Duật: khâm sai toàn quyền đại thần (chánh sứ); Tôn Thất Phan (phó sứ).
Chu Đình Kế, Tôn Thất Lương Thành: hộ tiếp.
Năm khoản nghi thức đón tiếp sứ bộ Pháp.
(sđd., tr. 113 – 114).
++ “Hòa” ước Ba Đức Na (Patenôtre) – Phạm Thận Duật gồm 19 khoản, kí ngày 13 tháng 5 âl., Kiến Phúc năm thứ nhất, Giáp thân (06-06-1884). Phía Đại Nam, bên trên hai chữ kí của chánh phó khâm sai toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật và Tôn Thất Phan, còn có chữ kí của phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường với tư cách dự thương. Đó là một sự ép buộc ngoài thông lệ mà Nguyễn Văn Tường cùng triều đình Đại Nam nước ta tạm nhân nhượng để Pháp yên tâm. Đây cũng là một cưỡng ước đau đớn (nhưng so với “hòa” ước Quý mùi [1883] vẫn là một thắng lợi).
~1~ Điều khoản 1: Pháp bảo trợ Đại Nam, nắm luôn quyền ngoại giao của Đại Nam. Pháp bảo trợ cả người Đại Nam ở nước ngoài.
~2~ Điều khoản 2: Pháp đóng đồn từ cửa Thuận (Thừa Thiên) đến kinh thành Huế trong thời hạn lâu dài. Đồn lũy Đại Nam dọc tuyến ấy phải triệt bỏ.
~3~ Điều khoản 3: Giáp Biên Hòa đến giáp Ninh Bình, quan chức Đại Nam vẫn được triều đình Đại Nam xếp đặt cai trị như cũ, trừ các nha thương chính (thuế quan), tạo tác, và các việc cần dùng kĩ sư đều do Pháp nắm.
~4~ Điều khoản 4: Trung Kỳ, ngoài Thị Nại, nay mở thêm cửa biển Đà Nẵng (Quảng Nam), Xuân Đài (Phú Yên) và sẽ mở thêm các cửa biển khác. Các nơi đó, có quan Pháp. Các quan Pháp này thuộc quyền khâm sứ Pháp ở kinh.
~5~ Điều khoản 5: Khâm sứ Pháp không can thiệp đến công việc các tỉnh Trung Kỳ; khâm sứ Pháp là thượng thư ngoại giao của Đại Nam. Khâm sứ có quyền vào gặp trực tiếp vua Đại Nam. Khâm sứ ở trong kinh thành, có lính hầu.
~6~ Điều khoản 6: Pháp đặt công sứ, phó công sứ ở Bắc Kỳ, tại các tỉnh; các công sứ này theo lệnh của khâm sứ Pháp ở kinh.
~7~ Điều khoản 7: Công sứ (người Pháp) không dự việc tỉnh, nhưng có quyền thay đổi quan tỉnh người Đại Nam.
~8~ […]
~9~ Điều khoản 9:
Đặt một hệ thống điện báo từ Sài Gòn đến Hà Nội…
~10~ Điều khoản 10: Pháp có quyền tòa án để xử người Pháp và cả người Đại Nam nếu có tranh chấp.
Không có người Đại Nam nào dám đụng đến người Pháp, vì vậy!
~11~ Điều khoản 11: Thuế Trung Kỳ: Đại Nam thu. Thuế Bắc Kỳ: Pháp và Đại Nam cùng thu (chi cho công sở…)…
~12~ Điều khoản 12: Sở thương chính (thuế quan) trên cả nước đều thuộc quyền Pháp. Đại Nam không được bàn đến các biện pháp quân sự do Pháp tiến hành để thu thuế hải quan.
~13~ Điều khoản 13: Người Pháp được quyền mua bán, dựng nhà, mua đất… Các điều mở rộng cho Thiên Chúa giáo cũng như ở “hòa” ước Giáp tuất (1874).
~14~ […]
~15~ Điều khoản 15:
Pháp có quyền đóng đồn bất kì nơi nào trên nước Đại Nam để bảo hộ quân sự (chống giặc trong nước, giặc ngoại xâm).
~16~ […]
~17~ Điều khoản 17: Món nợ đối với Y Pha Nho (Tây Ban Nha), sẽ trả dần. Đại Nam không được vay nước nào.
~18~ Điều khoản 18: Nhượng địa, tô giới; định lệ thuế khai mỏ, chế độ tiền tệ…
~19~ […]
Sau khi thỏa thuận xong các điều khoản, Ba Đức Na (Patenôtre) và Ba Rô (Parreau) đòi lấy ấn của nhà Thanh Trung Hoa phong vương cho Gia Long. Triều đình và Nguyễn Văn Tường không chịu, mặc dù Pháp nói 2, 3 lần. Nguyễn Văn Tường nói với các quan: “Bảo không thôi, thì phá đi, để đúc lại cái khác mà thôi” .
Rốt cục, Pháp phải đồng ý phá cái ấn ấy; và bảo, nếu không, sẽ dùng biện pháp quân sự, và “hòa” ước này sẽ hủy bỏ, lấy lại “hòa” ước Hà A Mang (Harmand) – Trần Đình Túc 1883. Thế miếu (nơi thờ các vua từ Gia Long đến Thiệu Trị, ngụ ý là hội đồng hoàng thân) và điện Hòa Khiêm (nơi thờ và chôn Tự Đức; ngụ ý là Khiêm hoàng hậu) đề nghị Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan áp ấn để lấy khuôn mẫu, giao cho sứ Pháp để báo cho nước ấy biết. Ấn bị nung chảy, ngay sau đó.
Câu nói của Nguyễn Văn Tường và việc nung chảy chiếc ấn là một sự phản đối “hòa” ước Giáp thân (1884).
Kế đó, các quan được tặng phẩm vật, theo thông lệ ngoại giao, gồm các thứ hàng tiêu dùng từ rượu chè cho đến các đồ trang sức; riêng Nguyễn Văn Tường, là một thùng đạn máy!
Điều này nói lên tính cách của Nguyễn Văn Tường (không rượu chè, dùng đồ xa xỉ).
Nước ta cũng tặng lại một số phẩm vật ngoại giao.
(sđd., tr. 114 – 124).
Pháp muốn Đại Nam đoạn tuyệt hẳn với Trung Hoa, và hoàn toàn lệ thuộc vào Pháp. Nhưng thực ra, đối với Trung Hoa, Đại Nam hoàn toàn độc lập, tự chủ; việc phong vương và triều cống 3 năm một lần chỉ là hình thức (dẫu sao cũng là hình thức bất bình đẳng!). Với Pháp, ta bị bóc lột và áp bức nặng nề, thậm tệ.
Cũng cần lưu ý, với quan điểm lịch sử – cụ thể, việc “đúc ấn phong vương” còn là sự công nhận (và công chứng) về tính chính thống của một triều đại. Chiếc ấn này nếu bị bọn Pháp đưa về Pháp, rất dễ tạo điều kiện cho những tên tay sái như Pi E (Pierre) Tạ Văn Phụng, thừa cơ đánh đổ nhà Nguyễn, lập nên nhà Tạ chẳng hạn.

++ Lúc này, Tôn Thất Phan: quản lí Thương bạc sự vụ đại thần.
(sđd., tr. 124).
++ Kiểm duyệt bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” để khắc in (*).
(sđd., tr. 124).
---- (*)Trước đây, thời Tự Đức, mới kiểm duyệt xong phần sử từ đời nhà Đinh đến đời Hậu Lê. Nay mới hoàn tất việc ấy (tổng tài: Nguyễn Văn Tường; phó tổng tài: Phạm thận Duật). (Xem lại mục tháng sáu âl., Nhâm ngọ (1882); ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 134).
++ Na Viên (?) đóng ở Thị Nại (Bình Định).
(sđd., tr. 125).
++ Pháp trả lại kho đúc tiền tại Hà Nội.
(sđd., tr. 125).
+++ Tháng năm nhuận âl..
++ Thi điện (thi đình). Thượng thư Bộ Hội (*) Phạm Thận Duật: đọc quyển; Nguyễn Thuật, Vũ Nhự: duyệt quyển.
(sđd., tr. 126 – 127).
---- (*) Vì kiêng húy Kiến Phúc, đổi chữ “Hộ” [gần đồng âm với “Hỗ”] thành “Hội”; và có lẽ vì chữ “Hội” đầy đủ nghĩa hơn (chữ “Hộ” nguyên nghĩa chỉ là cái cửa, cái nhà – kinh tế tự cung tự cấp thời cổ đại). ----
++ Thưởng ngoại giao cho thống binh Pháp Mi Lô (Millot)…
(sđd., tr. 127).
++ Khâm sứ Lê Na (Rheinart) báo tin: Pháp và Hoa đã giảng hòa ở Thiên Tân (Trung Hoa) nhưng hòa ước chưa trao đổi, chưa niêm yết phổ biến (chưa tổ chức lễ hỗ giao, và qua lễ này, công bố văn bản).
(sđd., tr. 127).
Thật ra, tạm ước Phuốc Ni Ê (Fournier) – Lý Hồng Chương đã được kí kết từ ngày 18-04 âl., Giáp thân (1884). Với tạm ước này, Pháp buộc triều đình Đại Nam tại Huế phải chấp nhận “hòa” ước Patenôtre – Phạm Thận Duật (13-05 âl., Giáp thân [1884]).
++ Vua nhà Thanh nghị xử quan quân Thanh thất bại ở Đại Nam trong cuộc chiến tranh Pháp – Hoa (1883 – 1884).
(sđd., tr. 127 – 128).
++ Canh tư (1 – 3 giờ khuya về sáng) ngày 02 tháng 5 nhuận âl., Giáp thân (1884), bảy đến tám trăm (700 – 800) quân Pháp qua sông Hóa (cách cầu Quan Âm [*] 8, 9 dặm [**]). Súng nổ đến giờ thân (15 – 17 giờ chiều). Quân Thanh thắng trận. Pháp (gồm cả lính ma tà) chết đuối rất nhiều trên sông. Pháp lui về giữ Bắc Lệ. Tri huyện Hữu Lũng Hoàng Đình Kinh (nhận ấn nhà Thanh) đánh lấy lại Bắc Lệ, vào ngày 7 âl.. Ngày 11 âl., lại chặn quân Pháp ở núi Thiên Cần, đánh và thắng. Pháp lại lui về nhà trạm Bắc Cần.
(sđd., tr. 128 – 129).
---- [*] Đây còn gọi là “Sự kiện cầu Quan Âm”.
[**] Dặm ta: 1.000 thước ta = 425 metre ; dặm Tàu: 576 m ; dặm Anh: 1069 m (đường bộ), 1852 m (đường biển) (Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, TTBSTĐ. xb., 1995, tr. 652). ----

++Tình thế Bắc Kỳ ở vùng thượng du ngày càng lao lướt: giặc cướp (bọn phỉ Tàu…) nổi dậy, quan tỉnh vắng khuyết. Nguyễn Hữu Độ tâu lên. Dụ của vua: Nguyễn Hữu Độ thông tư cho các quan về; phối hợp với quân Pháp tiễu phỉ cho yên dân (cùng Pháp thực hiện điều 2 “hòa” ước 1874, tức là điều 15 “hòa” ước 1884 [“hòa” ước 1884 chưa có hiệu lực]).
(sđd., tr. 129 – 130).
++ Nguyễn Hữu Độ cùng Ba Rô (Parreau) chọn bang biện các tỉnh; Độ bị triều đình trách vượt quyền. Lẽ ra, Nguyễn Hữu Độ phải bàn với các quan tỉnh, quan tỉnh làm giấy quyền phái mới hợp lệ.
(sđd., tr. 130).
++ Quảng Trị: bão to, mưa đá.
(sđd., tr. 130).
++ Công sứ Pháp ở Hải Dương bàn việc Pháp cấp lương và huấn luyện 600 lính tỉnh người Việt. Cơ mật viện không đồng ý, tâu: Pháp phối hợp với quan ta để huấn luyện, còn ta cấp lương để ta điều động.
(sđd., tr. 130 – 131).
++ Rèn tập và dồn lính thủy sư kinh kì làm 2 doanh tả, hữu.
(sđd., tr. 131).
++ Pháp xin bổ nhiệm cho Nguyễn Trọng Hợp làm quyền thự lí tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên. Vua chuẩn.
(sđd., tr. 131).
++ Các khâm sai Bắc Kỳ về kinh: Đoàn Văn Hội, Hoàng Hữu Thường, Nguyễn Thuật.
(sđd., tr. 132).
++ Chuẩn cho san khắc “Minh Mệnh chính yếu thư” (năm Thành Thái thứ 7 mới xong).
(sđd., tr. 132).
++ Khơi vét sông Vĩnh Định (Quảng Trị).
(sđd., tr. 132).
++ Tù phạm ở Sơn phòng Quảng Trị trốn (5 tháng: 100 người).
(sđd., tr. 132 – 135).
++ Đổi định lệ thưởng phạt cho biền binh diễn tập bắn súng Tây.
(sđd., tr. 137 – 138).
+++ Tháng sáu âl..
++ Ân khoa thi hương ở Bình Định, Thừa Thiên.
(sđd., tr. 138).
++ Dụ cho các tỉnh Bắc Kỳ: Các công sứ Pháp ở các tỉnh thuộc quyền khâm sứ Pháp ở Huế; cho nên, các công sứ phải thông báo nội dung công việc về khâm sứ để Viện - Bạc cùng bàn; sau đó, mới thi hành. Bản dụ còn chỉ rõ: Các quan tỉnh (người Đại Nam) phải nắm vững điều khoản 6 “hòa” ước Giáp thân (1884), không được sai lệch.
(sđd., tr. 139).
++ Nghị xử các quan quân thứ các tỉnh Bắc Kỳ đã chiến bại. Đình thần tâu lên, quan phụ chính duyệt y. Vua chuẩn và dụ. Nội dung giáng phạt: Đánh Pháp, bị thua trận, do không biết trù tính, làm hỏng đại cục; Hoàng Tá Viêm: trảm giam hậu; Lương Tư Thứ (Lương Huy Ý), Ngô Tất Ninh, Nguyễn Đình Nhuận, Trương Quang Đản: cách chức. Nhưng gia ân: Hoàng Tá Viêm, giáng, hưu dưỡng; 4 viên khác: giáng, đổi bổ nơi khác. Lí do: “Có thể mưu đồ về sau cho đại cục” (nguyên văn). Và nghị xử một lọat quan lại nhưng hoàn toàn xử nhẹ và miễn nghị.
(sđd., tr. 139 – 142).
++ Thái giám Trần Đạt lấy cắp đồ dùng nội đình. Bộ Hình xử chém bêu đầu. Phụ chính duyệt lại: Trảm giam hậu. Hữu quân kiêm quản thái giám Hồ Văn Hiển: cách li. Phúc duyệt: cách chức, lưu dụng. Về sau, cho Trần Đạt ra khai khẩn ở Sơn phòng Quảng Trị. Cả hai đều được gia ân.
(sđd., tr. 142 – 143).
++ Truy thụ cho cố thự tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận (bị Pháp bắt, ông vẫn bất khuất, ung dung trước họng súng giặc, trong những giờ phút trước khi bi giặc bắn chết); cải táng, các địa phương ven đường hộ tống, đón rước nghiêm chỉnh di hài.
(sđd., tr. 143).
++ Chuẩn cho bớt quan lại, tăng lương bổng.
(sđd., tr. 143 – 150).
++ Vua Kiến Phúc ốm từ tháng 4 âl., Giáp thân (1884) năm nay. Sau đó, vua lại khỏe. Ngày mùng 7 tháng sáu âl. tháng này, vua ngự ở điện Văn Minh; đình thần chầu mừng; vua ban thưởng. Liền đó, vua trở bệnh. Ngày mùng 10 (cách ngày ngự chầu chỉ 3 hôm), bệnh vua trở nên nguy kịch, và mất vào giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa) tại chính tẩm điện Càn Thành. Hoàng thái phi cho vời Miên Định, Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật đến để truyền di chúc: Lập Ưng Lịch, em ruột của vua Kiến Phúc, làm vua nối ngôi. Tất cả tôn nhân, đình thần tâu lên Từ Dũ, Khiêm hoàng hậu Vũ thị; rồi cùng rước Ưng Lịch vào cư tang, làm tự quân.
Kiến Phúc được thờ ở Thế miếu (vua chính thống, ngang với các tiên đế: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị…), vào đời Thành Thái (năm thứ 6 [1894]).
(sđd., tr. 150 – 151).
++ Ngày 12 tháng 6 âl., Giáp thân (1884), Ưng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy niên hiệu Hàm Nghi. Ưng Lịch được sinh ra đời vào ngày 17 tháng 02 âl., Tự Đức năm thứ 24, Tân mùi (1871). Mẹ ruột của Ưng Lịch (Hàm Nghi) là Phan Thị Nhàn.
(sđd., tr. 153 – 154).


Hết phần 1 của CHƯƠNG TÁM
Xin xem tiếp PHẦN 2 chương tám
ở tệp 9, cũng trên web-blog này:
http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/



Xếp chữ xong phần 1 chương tám, vào lúc 09 giờ 55 phút,
ngày thứ sáu (thứ năm cũ) 16-02 HB6 ( 2006 )
[19 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.

Trần Xuân An

14.2.06

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tệp 7)


TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”

(tiếp theo)
(Tệp 7)
(chương bảy)


G. CHƯƠNG BẢY

XVII. THỜI LÀM ĐỒNG PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN, VẪN ĐẢM NHIỆM VÀ KIÊM QUẢN CÁC CHỨC VỤ CŨ: THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN CỤC THUYỀN CHÍNH (HÀM & TƯỚC: THÁI TỬ THÁI PHÓ, THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ BÁ)


++ Tự Đức làm sẵn di chiếu và di chúc (*). Ngày 14 tháng 6 âl., Quý mùi (1883), Tự Đức triệu 3 Cơ mật viện đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào cùng chứng kiến chính tay nhà vua phê vào tờ di chiếu: Ưng Chân nối ngôi; Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm phụ chính và đồng phụ chính đại thần; Hoàng Tá Viêm: trấn Bắc đại tướng quân (lo việc bình Tây, định Bắc)…
(ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 198 – 202).
---- (*) Xin xem toàn văn di chiếu và di chúc của Tự Đức trong ĐNTL.CB., tập 35, sđd., số trang đã ghi trên. ----
++ Ngày 16 tháng 6 âl., Tự Đức mất vào giờ thìn (7 – 8 giờ sáng), tại điện chính Kiền [:Càn] Thành. Di chiếu được mở ở điện Cần Chính, trước bá quan. Ưng Chân khóc lạy, nhận mệnh vào điện Hoàng Phúc cư tang. Ngay sau đó, Ưng Chân lên ngôi, lấy niên hiệu là Dục Đức; nhưng làm vua chỉ được 3 ngày, liền bị truất phế (*).
(sđd., tr. 202).
---- (*) Ưng Chân (Dục Đức) bị truất phế vì có chính kiến thân Pháp, thân tả đạo Thiên Chúa giáo, bê trễ phê duyệt các tập tâu về việc quân khẩn cấp, và vì bản thân vi phạm những quy chế về cung cấm [cho “người lạ” vào ra], vi phạm những điển lệ về tang khó… ----
++ Ngày mậu thìn, 20 tháng 6 âl., Dục Đức (Ưng Chân) bi truất phế (*).
Ưng Chân thường bị lầm lỗi, do đó hay bị vua Tự Đức quở phạt. Vua Tự Đức lại rất yêu mến Ưng Đăng (hoàng tử thứ ba). Nguyễn Văn Tường cũng kì vọng ở hoàng tử thứ ba, cho rằng Ưng Chân (Dục Đức) không có đủ đức độ để làm vua. Còn hoàng tử thứ hai (Ưng Kỹ) lại có quá nhiều thói xấu và tâm địa không tốt. Di chúc của vua Tự Đức đã khẳng định rõ như thế. Tôn Thất Thuyết cũng không bằng lòng về việc Ưng Chân nối ngôi vua. Tôn Thất Thuyết cũng nhận thấy không thể lập Ưng Chân hay Ưng Kỹ, nhưng Ưng Đăng lại còn bé (14 tuổi). Tự Đức truyền ngôi cho Ưng Chân (Dục Đức) chỉ vì một điều là Ưng Chân đã lớn tuổi (30 tuổi), mặc dù xác định: Ưng Chân có tính hiếu dâm; sợ sau sẽ mù; tâm tính rất không tốt; e rằng khó đảm đương nổi việc lớn (di chiếu, sđd., tr. 199)! Nay, mới một hôm cư tang, Dục Đức (Ưng Chân) đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng:
1. Vi phạm thứ nhất: Đem vào điện Hoàng Phúc, sở Quang Minh nhiều người riêng (**), cấp thẻ bài để nhưng kẻ ấy được tự do, tùy tiện ra vào;
2. Vi phạm thứ hai: Bê trễ việc phê duyệt các tờ tâu khẩn cấp của các quân thứ;
3. Vi phạm thứ ba: Cúng vua Tự Đức mới chết lại mặc áo sắc lục cũ (không mặc áo tang!); lại sai chế ngay các đồ dùng, quần áo riêng (để trang sức!) – trái với điển lệ.
4. Vi phạm thứ tư: Dục Đức muốn cắt bỏ một đoạn trong di chiếu của vua Tự Đức.
Vi phạm thứ tư đó, cụ thể như sau:
Nguyễn Văn Tường phàn nàn với Tôn Thất Thuyết về những vi phạm của Ưng Chân. Tôn Thất Thuyết cũng hiểu ẩn ý của Tự Đức trong di chiếu: Theo sự đánh giá của vua Tự Đức, chỉ Ưng Đăng mới xứng làm vua, nhưng chỉ tiếc là còn quá bé. Vậy thì, vì tiền đồ đất nước và vì sự tự chủ của triều Nguyễn, nên đặt một người khác lên làm thay, tốt hơn là vẫn đưa Dục Đức (Ưng Chân) lên ngôi vua. Tôn Thất Thuyết cũng đã có ý truất phế Dục Đức, nhưng vẫn chưa thực hiện được sự truất phế ấy. Bấy giờ, Dục Đức lại phạm thêm một lỗi lầm mà luật pháp của vương triều không thể tha thứ được.
Việc cắt bỏ một đoạn di chiếu này, Dục Đức có hỏi ý kiến của ba vị phụ chính đại thần. Trần Tiễn Thành đồng ý. Trong khi đó, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết xin nhà vua mới lên ngôi tự quyết định. Ai cũng biết rằng, tự cắt bỏ di chiếu của vua tiền nhiệm là đã vi phạm pháp luật, tự kết án tử hình. Trước khi vua Tự Đức qua đời, ba vị đại thần đã xin vua cắt bỏ, nhưng vua Tự Đức không đồng ý. Nay Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết làm sao dám thuận ý với Dục Đức và Trần Tiễn Thành, trong khi di chiếu đã mở ra ở điện Cần Chánh!
Do đó, khi tuyên đọc, Trần Tiễn Thành rất khôn, không bỏ hẳn đoạn ấy không đọc, mà chỉ “đọc hàm hồ” (nguyên văn), đọc nhỏ giọng để không ai nghe rõ, hiểu đúng, như một cách xuyên tạc, cắt bỏ đoạn di chiếu ấy. Sự thể đó liền bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tố cáo trước triều thần.
Ngay tức khắc Tôn Thất Thuyết ra lệnh bắt hết bọn tay chân của Dục Đức, gông cùm lại. Tất cả gồm 14 tên.
Lúc họp hoàng thân và các quan ở Tả vu, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phân tích rõ tội lỗi của Dục Đức, xin lập vua khác. Trần Tiễn Thành can. Tôn Thất Thuyết trừng mắt, bảo Trần Tiễn Thành đã phạm pháp (đọc xuyên tạc di chiếu), đừng can ngăn nữa. Phan Đình Phùng (với chức năng ngự sử [phản biện]) cũng tiến lên, ngăn việc phế lập, bảo rằng Dục Đức lẽ ra phải được khuyên can; chưa thấy khuyên can gì đã vội phế truất và lập người khác làm vua! Phan Đình Phùng bị Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho quân lính trói ngay. Và cuối cùng, mọi người đồng ý xin ý chỉ của Từ Dũ (mẹ của vua Tự Đức). Từ Dũ để tùy hoàng thân, phụ chính đại thần, đình thần chọn lựa người nối ngôi.
Nguyễn Văn Tường muốn theo sự đánh giá có ngầm ý chọn lựa của vua Tự Đức: chọn Ưng Đăng. Ưng Đăng đã là hoàng tử, 14 tuổi, không còn quá bé nữa. Tôn Thất Thuyết lại đi vận động cho Hồng Dật. Và Nguyễn Trọng Hợp cùng các đình thần khác được Tôn Thất Thuyết mớm ý, để sẽ đề xuất và ủng hộ Hồng Dật. Nguyễn Văn Tường cũng thuận theo ý Tôn Thất Thuyết trong việc chọn người nối theo tôn miếu nhà Nguyễn, vì Tôn Thất Thuyết thuộc huyết thống tôn thất và cũng vì Hồng Dật đã 36 tuổi (di chiếu cũng nói rõ là đất nước hiện thời cần vua lớn tuổi). Do đó, Hồng Dật lên ngôi làm vua, lấy hiệu là Hiệp Hòa. Từ Dũ đồng ý, ban ý chỉ.
(sđd., tr. 205 – 209) (***).
(xem thêm: sđd., tr. 231)
---- (*) Xem nguyên văn ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 205 – 209.
(**) Theo một số tư liệu (Aldophe Delvaux, tập san “Những người bạn cố đô Huế” [Bulletin des amis du vieux Hué], số 1, 1941), trong những kẻ này, có cả một linh mục tả đạo Thiên Chúa giáo: Nguyễn Hữu Cư (tức Thơ). ĐNTL.CB, ghi nhận là linh mục làm thương biện, thông ngôn này sau đó vẫn được triều đình sử dụng ở Ti Hành nhân, trụ sở đóng ngoài kinh thành Huế.
(***) Sự kiện phế lập này bị Quốc sử quán viết với cách diễn đạt đậm màu sắc bảo hoàng, chủ “hòa”. (Và có lẽ một phần khác, phải chăng do Tổ Phiên dịch Viện Sử học đã dịch theo định kiến hình thành từ thời thực dân phong kiến, nên khi đọc, người đọc cảm thấy bị phản cảm?). Người biên soạn (Trần Xuân An) xin gột tẩy màu sắc hạn chế ấy, nhưng vẫn giữ đúng y nguyên tình tiết của sự kiện, để bảo lưu sự thật lịch sử. Tất nhiên, xin hiểu rõ: màu sắc bảo hoàng, chủ “hòa” thể hiện không những ở cách dùng từ với sắc thái phản cảm rõ rệt, mà còn ở các tình tiết “suy diễn” của Quốc sử quán triều Nguyễn từ sự kiện ấy, như khía cạnh tâm lí chẳng hạn (dễ võ đóan hoặc xuyên tạc). Xin phân biệt suy luận có lí với suy diễn phi lí hoặc có ác ý. Và xin hiểu đúng: Nguyễn Văn Tường “không yên tâm” (nguyên văn) – “không yên tâm” cho vương triều Nguyễn và Đất nước, nhân dân –, khi Ưng Chân được Tự Đức truyền ngôi, vì ông vốn khinh thường tư cách đạo đức của Ưng Chân, mà kì vọng ở Ưng Đăng, một hoàng tử tuy còn nhỏ tuổi (14 tuổi) nhưng sớm thông minh, có hạnh kiểm tốt đẹp. Và Tôn Thất Thuyết cũng “không bằng lòng” (nguyên văn) về Ưng Chân (Dục Đức), một vị vua mà có tư cách đạo đức như vậy. Đó là chưa kể đến điều chủ yếu: quan điểm chính trị của Ưng Chân! Xin đối chiếu với nguyên văn ĐNTL.CB.. Đối chiếu là cách tốt nhất để kiểm chứng sự sai biệt giữa văn bản vốn được xem là chuẩn cứ với cách hiểu, cách diễn đạt của người biên soạn (TXA.). Trong tinh thần khách quan khoa học, xin thưa như vậy. ----

______________________

Phụ lục 1 của chương bảy:
Nguyên văn
Vụ truất phế Dục Đức, tháng 6 Quý mùi (tháng 7.1883) trong ĐNTL.CB. , tập 35, sđd., số tr. đd. như sau:
“[Tiểu đề:] Quý mùi, năm Tự Dức thứ 36 (1883), tháng 6, ngày mậu thìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết bỏ vua nối ngôi, lập em út vua là Lãng quốc công Hồng Dật.
[Thuyết:] Trước đây, vua mới mất đi chọn nuôi hoàng tử, cùng trước sau nuôi ở trong cung 2 công tử nữa là hoàng tử thứ 2, hoàng tử thứ 3. Vua cho là hoàng tử thứ 3, tuổi còn bé, hầu hạ cẩn thận, biết sợ, rất yêu. Mà về hoàng trưởng tử thì dạy bảo càng nghiêm, thường vì lầm lỗi bị quở. Văn Tường nghĩ hoàng trưởng tử tất không được lập lên làm vua mới khinh thường hoàng trưởng tử [về tư cách đạo đức, quan điểm chính trị – TXA. ct.] mà chỉ để tâm đến hoàng tử thứ 3. Đến nay tờ chiếu để lại cho nối ngôi lại là hoàng trưởng tử, Văn Tường trong lòng không được yên, Thuyết cũng không bằng lòng với tự quân.
Gặp khi tự quân ở điện Hoàng Phúc đem nhiều người riêng vào hầu hộ vệ ở điện Hoàng Phúc và các sở Quang Minh, (đều sai chế bài cấp cho đeo), bọn ấy nhân đó ra vào tự do; các tờ tâu khẩn cấp của các quân thứ các tỉnh tâu lên, có khi để ở trong điện một đêm, vẫn chưa giao ra. Lại trong khi làm lễ điện (cúng vua mới chết) vẫn mặc áo sắc lục cũ, hoặc sai chế ngay các đồ dùng riêng (các thứ quần áo đồ dùng).
Văn Tường bảo kín Thuyết rằng: “Tiên đế đã bảo vua nối ngôi chưa chắc đương nổi việc lớn, lại giao cho ngôi lớn. Nay bắt đầu, cử động đã như thế, huống chi là ngày sau ư? Đó là việc lo riêng cho chúng ta”. Thuyết vốn tính cương trực lại cậy quyền cầm quân liền mật đáp rằng: “Cứ như lời chiếu thì mưu tính là vì xã tắc, bất đắc dĩ mà làm việc nhỏ như Y Doãn, Hoắc Quang (*), cũng là chí của tiên đế”; nhân thế cũng có ý mưu bỏ [phế Dục Đức – TXA. ct.] đi.
Sau rồi vua nối ngôi lại nghĩ trong tờ di chiếu răn bảo có những câu không tốt, không thể truyền bá cho mọi người nghe; triệu các phụ chính đại thần, cần bớt một đoạn ấy đi, không tuyên lục ra. Trần Tiễn Thành bảo thế cũng ổn, 2 người đều thưa rằng: “Xin nhà vua quyết định”; vua nối ngôi tin là cùng bằng lòng, bèn sai sao tờ di chiếu, tự tay xóa bỏ đoạn ấy đi; dặn Trần Tiễn Thành nhớ mà làm. 2 người ra bàn kín với nhau rằng: được rồi; mưu ấy bèn nhất định.
Đến lúc tuyên đọc tờ chiếu, Văn Tường cáo ốm không đứng trong ban chầu, Thuyết đứng vào bên Trần Tiễn Thành. Tiễn Thành đọc đến đoạn ấy, đọc nhỏ hàm hồ không rõ. Văn Tường ở chái bên đông, làm ra vẻ quái lạ, nói rằng: “Vua nối ngôi sao được giấu bớt di chiếu của tiên đế? Bậy bạ không gì to hơn nữa; còn có thể nối theo tôn miếu xã tắc được ư?”.
Tuyên đọc xong, hai người hỏi vặn Tiễn Thành; Tiễn Thành biết là bị chúng đánh lừa, nói chữa rằng: “Có phải không đọc đâu, nhưng lão phu có bệnh ho, đọc đến đây hết hơi tiếng nhỏ mà thôi”. Thuyết chứng tỏ là không phải, cho là càn bậy, cũng như lời của Văn Tường nói; rồi nhân phái quân túc vệ canh gác trong ngoài cung thành rất nghiêm (bắt hết cả người riêng của vua nối ngôi là bọn Nguyễn Như Khuê, hơn 10 người, giao cho đem gông cùm lại). Họp hoàng thân và các quan ở Tả vu, 2 người tuyên bố về việc tội lỗi của vua nối ngôi, xin bỏ đi, lập vua khác. Tiễn Thành muốn can ngăn, Thuyết trừng mắt nhìn, nói rằng ông cũng có tội to, còn nói gì.
Trong khoa đạo có chưởng ấn là Phan Đình Phùng [**] tiến lên nói rằng: “Vua nối ngôi nếu có lỗi, chưa thấy can ngăn, đã vội bàn như thế; việc bỏ vua, dựng vua là việc to, lại dễ dàng quá thế”. Thuyết quát lên, sai tả hữu đem Đình Phùng trói để ở trại quân Cẩm y, bảo đợi để nghiêm trị. (Lúc bấy giờ, 4, 5 người theo sau Đình Phùng nghe Thuyết thét trói Đình Phùng tức đều lui tan), cho nên Tiễn Thành và hoàng thân, các quan không ai dám trái; rồi cùng ký tên tâu xin ý chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu truất bỏ đi.
Sai người đưa vua nối ngôi về chỗ cũ là Dục Đức đường, canh phòng rất kĩ.
Khi mật bàn người được lập, Văn Tường để ý đến hoàng tử thứ 3 mà Thuyết thì cho là hoàng đệ Lãng quốc công có tư chất thông minh, vốn quen biết sẵn, để ý đến Lãng quốc công. Văn Tường tính là không tranh nổi, cũng theo lời ấy, rồi đem ý xin lập vua nhiều tuổi tâu trước với cung Gia Thọ (tức là Từ Dụ thái hoàng thái hậu) để lãnh chỉ. Được ý chỉ truyền rằng: “Hiện nay trong thì lo về vua mới mất, ngoài thì có giặc ngoại xâm, người ít tuổi thực không đương nổi, nhưng thân này già cả, sao biết được, phần nhiều nhờ Tôn nhân, phụ chính, đình thần, cùng nhau chọn các hoàng đệ, ai nên lập thì lập lên làm vua”.
Thuyết bèn đến phòng Cơ mật bảo bọn thượng thư Nguyễn Trọng Hợp, thị lang Lâm Hoành, Trần Thúc Nhận [Nhẫn – TXA. ct.], Hoàng Hữu Thường, thị vệ đại thần Tôn Thất Thái rằng: “Ngày nay phi tìm vua nhiều tuổi cho xã tắc, không ai hơn Lãng quốc công; các ông nên phải nói”.
Lúc bấy giờ bên ngoài nghe tin cấp báo đương gấp, chợt có biến bên trong, đều không ai biết làm thế nào; đến khi hội bàn ở Tả vu, Văn Tường và Thuyết hỏi trước các thân phiên, hoàng thân thì đều nói rằng: “Tuy cũng ở trong tôn thống, nhưng ngày thường mỗi người ở riêng một nhà, không biết rõ được; xin 3 đại thần cùng đình thần liệu bàn”. Tường, Thuyết lại hỏi; đình thần nói ngày nay việc không thể hoãn được. Trọng Hợp bèn nói trong các hoàng đệ có Lãng quốc công, vốn khen là người có học, được tiên đế cho sung chức Tôn đài; nay hiện việc như thế, chưa biết Lãng quốc công có đương nổi không? Lãng quốc công đứng dậy khóc nói rằng: “Tôi là con út của tiên đế, tư chất tầm thường, thực vạn vạn phần không dám nhận”. Văn Tường và Thuyết đều nói rằng: “Đấy thực là phúc của xã tắc, xin đừng từ chối”; bèn cùng các quan kí tên tâu xin ý chỉ của thái hoàng thái hậu, lập Lãng quốc công làm vua”.
(ĐNTL.CB., tập 35, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 205 – 209).
---- (*) Y Doãn đuổi vua là Thái Giáp ra ở Đông cung 3 năm, sau lại đón về cho làm vua. Hoắc Quang làm tướng, bỏ vua là Xương Ấp vương, lập Hán Tuyên đế làm vua (xem Bắc sử) [chú thích của Viện Sử học]. ----
Mấy trang phụ lục này, cũng như những trang phụ lục khác ở các mục kế tiếp, vốn được người biên soạn (Trần Xuân An) tuyển chọn cho cuốn “Nguyễn Văn Tường, ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”, khảo luận – phê bình sử học, đã đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm số tháng 5-2005:

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucI.htm

______________________

++ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết giao Phan Đình Phùng cho Bộ Hình nghị xử: cách chức, trả về quê (không tước học vị tiến sĩ) vì đã bênh vực một người cố ý phạm pháp, mặc dù người ấy là vua nối ngôi (Dục Đức).
(sđd., tr. 210).
Thật ra, với chức năng ngự sử (Đô sát viện), thường để can ngăn vua hoặc phản biện với các quan trong các cuộc thiết triều, Phan Đình Phùng đã lên tiếng trong cuộc phế truất Dục Đức. Không lâu về sau, ông được phục chức và phục vụ ở Sơn phòng Hà Tĩnh, trong kế hoạch kháng chiến của hai vị đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Xin xem: ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 184 – 185. TXA.
++ Tuần phủ Quảng Nam Đặng Đức Địch tâu xin tăng cường phòng thủ. Cơ mật viện cho rằng thành trì tỉnh ấy xa đường sông; và đánh Pháp, chống giữ trước sự tấn công của Pháp không thể cậy vào đồn lũy (súng đạn Pháp công phá rất mạnh) mà phải dùng chiến thuật khác (du kích, mai phục…).
(sđd., tr. 210).
++ Giam bọn Nguyễn Như Khuê, tay chân của Dục Đức, gồm 14 tên. Sau đó nghị xử: Chỉ một Nguyễn Như Khuê bị tội chém, nhưng được hoãn; số còn lại bị hình phạt nặng, nhẹ khác nhau (*).
(sđd., tr. 210).
---- (*) Xem lại chú thích (**) ở vụ phế truất Dục Đức: Aldophe Delvaux, tập san “Những người bạn cố đô Huế” [Bulletin des amis du vieux Hué], số 1, 1941, về linh mục tả đạo Thiên Chúa giáo: Nguyễn Hữu Cư (Thơ). ----
++ Phó đề đốc Bắc Ninh Trần Xuân Soạn, thương biện Thanh Hóa Trương Văn Đễ về kinh đô nhận chức.
(sđd., tr. 210).
++ Đưa quân Ngãi – Định và Nghệ về kinh đô.
(sđd., tr. 210 – 211).
++ Lê Sỹ: phó sứ Hải phòng kinh kì.
(sđd., tr. 211).

XVIII. THỜI LÀM PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, LÃNH THƯỢNG THƯ BỘ HỘ (THÁI TỬ THÁI PHÓ, THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ HẦU TƯỚC)

++ Theo thông lệ nhà vua nối ngôi đăng quang, một loạt hoàng thân, quan chức được tấn phong, thăng thưởng. Trong đó, Trần Tiễn Thành: thái bảo, Cần Chánh điện đại học sĩ; Nguyễn Văn Tường: Văn Minh điện đại học sĩ, Kì Vĩ hầu (thời Tự Đức, Nguyễn Văn Tường đã là thái tử thái phó…); Tôn Thất Thuyết: điện tiền tướng quân, hiệp biện đại học sĩ, Vệ Chính bá tước… Nguyễn Khuyến (tam nguyên Yên Đổ): quang lộc tự khanh; Đào Tiến [Đào Tấn, nhà viết tuồng]: thực thụ hồng lô tự khanh… Trần Nhượng: tuần phủ…
(sđd., tr. 211 – 213).
++ Quan Cơ mật viện tâu: Xin ra lệnh cho các quân thứ thừa thắng đánh quân Pháp, đừng để chúng có thì giờ mưu tính việc khác.
(sđd., tr. 213 – 214).
Cơ mật viện lúc này vẫn còn 3 người: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Tuy vậy, Trần Tiễn Thành đã hoàn toàn lép vế trước hai đại thần chủ chiến.
++ Lưu Vĩnh Phúc: Nghĩa Lương nam tước.
(sđd., tr. 214).
++ Nguyễn Chính, Vũ Trọng Bình bị gọi về kinh đô chịu tội, theo quân luật (vì để thất thủ thành Nam Định).
(sđd., tr. 214).
++ Quan Cơ mật viện tâu:
“Ta cùng với nước Pháp, mạnh yếu khác nhau, cho nên trước thì 3 tỉnh, sau rồi 6 tỉnh Nam Kỳ đã bị chúng chiếm cứ. Vừa rồi, đến Bắc Kỳ lấy 4 tỉnh rồi lại trả liền, nay lại lấy Nam Định, Hà Nội mà chiếm cứ. Hoà ước rõ ràng, mà chúng dám coi thường như thế, thì hoà ước cũng không đủ cậy. Ta đã chịu khuất, không dám tranh đua sức mạnh, mà chúng cũng chưa từng thương kẻ yếu. Tuy thông sang Vân Nam, là nguyện vọng của chúng, nhưng việc mượn đường chưa chắc là thực cả. (Vừa rồi nghe tin nhật báo: nói muốn đến Thuận An bắt hiếp phải hoà) ; đấy là do một vài kẻ [thực dân – TXA. ct.] cầu công, nguyên không phải do [Quốc hội – TXA. ct.] nước ấy cùng bàn, mà ta chỉ lần chần nhát yếu, không dám làm gì, dần dần đến cái thế không thể làm được. Nay nhờ tiên đế đưa thư cho nước Thanh nói rõ nghĩa lớn, Lý Hồng Chương trù lượng phái quân sang, làm thanh thế cứu ứng ở xa, cho nên chúng chưa thể nuốt được. Nhưng hiện nay thế thành ra cưỡi hổ, tên đã ở cung, nếu không đánh tan sào huyệt, thì chúng có thì giờ mưu tính, không những yêu sách nhiều cách; Lý Hồng Chương ngại về điều đình, mà [quân Pháp – TXA. ct.] đến cửa Thuận An bắt hiếp phải hoà, ta cũng khó giành được phần thắng.
Xin lại giáng dụ nghiêm sức các quan quân thứ chia quân tiến đánh, cho chúng nhọc về phòng bị, không có thì giờ mưu tính việc khác, thì ta mới giữ vững để đợi nước Thanh xử trí”
(nguyên văn).
Vua Hiệp Hòa chỉ tạm nghe theo.
(sđd., tr. 214 – 215).
++ Hồng Sâm đi rước thầy thuốc Quảng Đông (Trung Hoa) qua chữa bệnh cho vua Tự Đức đã về.
(sđd., tr. 215).
++ Dời tỉnh thành Hải Dương (vì gần sông).
(sđd., tr. 215).
+++ Tháng bảy âl..
++ Bàn lễ tấn tôn Trung phi Vũ thị là Khiêm hoàng hậu (mẹ nuôi Ưng Chân [Dục Đức]) và Thụy tần Trương thị (mẹ ruột Hiệp Hòa) là hoàng thái phi. Đồng thời, tấn tôn Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) là thái hoàng thái hậu. Trung phi Vũ thị tự trách mình không giáo dục được Ưng Chân (Dục Đức).
(sđd., tr. 216 – 217).
(xem thêm: tập 35, sđd., tr. 220, tr. 246; tập 36 , sđd., tr. 38 – 39).
Chính vua Hiệp Hòa đề xuất tấn tôn cho mẹ ruột, và việc này trở thành lệ, nên về sau đã tấn tôn cho Học phi (mẹ nuôi Kiến Phúc, từ lúc Kiến Phúc còn là Ưng Đăng, mới 2 tuổi).
++ Mật dụ cho Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản: Phải đánh ngay, đừng để Pháp có thì giờ xin cứu viện; hẹn trong một tháng phải san bằng các sở thương chính tại Hà Nội, Nam Định, nơi Pháp đóng, vì quân ta đã đông, thế trận đã thành. Hiệp Hòa cho là thực hiện theo lời tiên đế Tự Đức.
(sđd., tr. 217 – 218).
(xem lại: sđd., tr. 197).
++ Sứ bộ Lã Xuân Oai, Nguyễn Khuyến (tam nguyên Yên Đổ, nhà thơ) sang Trung Hoa. Sau đó, sứ bộ đi đường biển, nên tuần phủ Lạng – Bằng Lã Xuân Oai có lệnh khỏi đi. (Và rồi… Nguyễn Khuyến không không đi nữa, vì Hiệp Hòa đã cho kí “hòa” ước 1883).
(sđd., tr. 219).
++ Pháp thu thuế cửa khẩu ở Hà Nội, không cho ta biên sao, biên nhận như trước (theo cưỡng ước thương mại Giáp tuất 1874). Nguyễn Hữu Độ tâu vào triều. Viện – Bạc tâu xin gửi thư cho tướng Pháp ở Gia Định về vấn đề đó.
(sđd., tr. 219).
++ Một người thường dân say rượu, nói liên tu bất tận về việc phế lập tự tiện, nhiều câu bất kính. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu xin trảm quyết bêu đầu tại chỗ. Hiệp Hòa cho trảm giam hậu (chém nhưng tạm giam chờ xét). Về sau, Hiệp Hòa bị truất bỏ, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lại tha cho người ấy.
(sđd., tr. 219).
Điều đó nói lên rằng, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã biết sửa sai: lập hoàng tử của vua Tự Đức, ấy là Ưng Đăng. Ngoài ra, còn thấy rõ, ngay việc xử tử một người thường dân bất kính, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cũng phải tâu xin, không hề tự tiện, chuyên quyền chút nào.
++ Lãnh sự Pháp ở Bình Định đã ra đi, đóng cửa trụ sở. Nay lại đến, hỏi về thuế!
(sđd., tr. 220 – 221).
++ Nguyễn Thành Ý được dụ cùng hành nhân (thông dịch viên) Nguyễn [Hữu] Cư (tức linh mục Thơ) đến cửa Thuận An (Huế) để chờ Hà A Mang ([Harmand], toàn quyền đại thần Pháp).
(sđd., tr. 221).
++ Tàu Pháp đến cửa Thuận (Huế), cho thuyền nhỏ vào đo nước. Cơ mật viện – Thương bạc tâu: Phải đánh ngay, nếu Pháp vào quá 3, 4 chiếc. Vua Hiệp Hòa: Chỉ nên canh giữ, không nên gây hiềm khích, “nếu không biết cơ nghi, hiểu lí thế thì không được” (nguyên văn).
(sđd., tr. 222).
++ Tăng số lính tại ban, luyện tập phòng thủ. Điều số vũ sinh 4 trực tỉnh (Thiên, Nam, Bình, Trị) về kinh đô, để huấn luyện.
(sđd., tr. 222).
++ 13 chiếc tàu binh Pháp đỗ ở Đồn thủy Hà Nội; làm hào lũy, ổ súng. Quan tỉnh vẽ bản đồ dâng về triều đình.
(sđd., tr. 223).
++ 6 chiếc tàu binh Pháp từ Bắc Kỳ chạy vào Quảng Nam. Quan Cơ mật viện tâu: Xin thông tư cho Sơn Tây, Bắc Ninh đánh tàu thủy Pháp ngay, kẻo chúng mưu tính chỗ khác, sức quân ta bị chia ra. Tàu Pháp lại đến Quảng Nam rất nhiều. Vua Hiệp Hòa đồng ý đánh.
(sđd., tr. 223).
Thật tâm Hiệp Hòa chỉ cầu “hòa” mà thôi!
++ Vua Hiệp Hòa sai Nguyễn Văn Sỹ đem cờ lệnh, ngự bài tùy nghi làm việc cho Tôn Thất Thuyết ở cửa Thuận An (Huế), nhưng dặn dò: “Nếu không hòa được, cũng tòng quyền làm kế hoãn binh” (nguyên văn); nếu hiếu thắng, sẽ bị trách cứ rất nặng.
(sđd., tr. 223).
++ Tàu Pháp vào cửa Thuận An (Huế), đưa chiến thư. Nguyễn Thành Ý giảng thuyết. Pháp không chịu, kiếm cớ để quyết đánh. Nguyễn Thành Ý đã bị Pháp trục xuất khỏi Gia Định; Pháp cho rằng, nay không thể nói chuyện với nhau được. Trần Thúc Nhẫn, Phạm Như Xương thay Nguyễn Thành Ý. Nhưng Pháp đã tấn công. Chúng bắn phá suốt 3 ngày, lại cho quân đi thuyền nhỏ vào cửa Thai Dương (Thuận An, Thừa Thiên), luồn ra sau quân ta để đánh úp. Trương Văn Đễ thua, phải chạy. Lê Sỹ, Lâm Hoành, Lê Chuẩn, Nguyễn Trung đều chết trận. Trần Thúc Nhẫn tự vẫn. Cửa Thuận An, cửa ngõ của kinh đô Huế, đã mất vào tay giặc Pháp xâm lược, trong ngày 18 tháng 7 âl., Quý mùi (1883).
(sđd., tr. 223 – 224).
++ Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp đến ngay thành Trấn Hải (cửa Thuận) bàn “hòa”; cũng theo lệnh dụ: treo cờ trắng đầu hàng (ở các đồn từ Lộ Châu lên đến kinh thành), nhưng vẫn phòng thủ nghiêm mật.
(sđd., tr. 224).
++ Tỉnh Hải Dương: thành mới, thành cũ đều mất hết. Do đó, lại càng phải cầu “hòa”!
(sđd., tr. 224).
++ Chu Đình Kế: kiểm đốc đài Trấn Bình (Mang Cá) ở kinh thành Huế.
(sđd., tr. 224).
++ Hà A Mang (Hà Truất Mang, Harmand, khâm sai Bắc Kỳ toàn quyền đại thần Pháp) đưa chiêu “hòa” thư. Trần Đình Túc (hưu trí) và Nguyễn Trọng Hợp (sung Cơ mật viện đại thần) đến Sứ quán Pháp tại Huế để bàn định “hòa” ước.
(sđd., tr. 224 – 225).
Đại thần Cơ mật viện – Thương bạc lúc này: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Trọng Hợp.
++ Quốc tử giám: sinh viên tình nguyện sung quân quyết chiến. Vua can ngăn.
(sđd., tr. 225).
++ Tham biện đồn Hòa Quân (Hòa Duân) Ông Ích Khiêm rút quân lên Huế. Quân vừa đi vừa đánh trống phản đối, bất mãn, ê chề, và với tâm trạng phá tán. Vua trách, ra lệnh giao quân cho Tôn Thất Thuyết.
(sđd., tr. 225).
Đúng là tướng nào quân nấy! Quyết chiến, hăng hái và hơi… vô kỉ luật (“vô lễ”!). So sánh với các danh tướng cùng thời, sẽ thấy rõ cả ưu lẫn nhược điểm của Ông Ích Khiêm.
++ Hiệp Hòa bổ nhiệm người thân của phi tần theo kiểu thiên vị.
(sđd., tr. 225).
++ Rút biền binh các đồn từ Lộ Châu lên đến Huế; chuyển súng đi.
(sđd., tr. 225).
++ Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp xin bố trí Hoàng Hữu Thường sung làm tham biện định “hòa” ước. Sau đó, Trần Đình Túc lại về hưu, chỉ một mình Nguyễn Trọng Hợp bàn định các điều khoản quá nhục nhã của “hòa” ước Quý mùi 1883 (*).
(sđd., tr. 225).
---- (*) Bắc Kỳ hoàn toàn bị “bảo hộ” (quan lại do Pháp chọn đặt); quân Pháp đóng từ Đèo Ngang trở ra; Bình Thuận hoàn toàn thành thuộc địa của Pháp như Nam Kỳ lục tỉnh; khâm sứ Pháp có thể gặp vua bất kì lúc nào và vua đều phải tiếp… ----
++ Quân thứ Sơn Tây đánh tan quân Pháp ở Hương Canh, Phù Diễn. Pháp rất muốn báo thù cho Vi E (Lý Ba Lợi, Henry Rivière). Chúng chiêu mộ thêm quân người Hoa, dân Thiên Chúa giáo. Pháp tấn công phủ Hoài Đức, huyện Đan Phượng rất dữ dội. Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc cùng tướng Thanh Đường Cảnh Tùng phối hợp quân, 4 mặt tiếp ứng. Hai bên giao chiến từ giờ mão (5 – 7 giờ sáng) đến giờ dậu ( 17 – 19 giờ tối). Pháp thua, bỏ chạy.
Bấy giờ, Hải Dương đã thất thủ (sđd., tr. 232 – 233). Hiệp Hòa nghe tin thắng trận ở Hương Canh, Phù Diễn cũng không vui mừng. Ý kiến Viện Cơ mật và ngay cả Bộ Binh (của Tôn Thất Thuyết): Cố nhiên phải khen thưởng, nhưng tình hình đã khác; sẽ nghĩ định sau!
(sđd., tr. 225 – 226).
++ Tham Bô (Sâm Bô, De Champeaux) lại đến Huế làm khâm sứ.
(sđd., tr. 226).
++ Quân ở cửa Tư Hiền (Thừa Thiên) phải rút về kinh đô.
(sđd., tr. 226).
++ Thượng thư Bộ Công Trần Văn Chuẩn: Thương bạc đại thần (kiêm sung).
(sđd., tr. 226).
++ Báo tình hình Pháp ức hiếp phải “hòa” cho tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Hoa) và Lý Hồng Chương.
(sđd., tr. 226).
++ Vua Hiệp Hòa dụ bảo các quân thứ Bắc Kỳ: Triều đình đã kí “hòa” ước Quý mùi 1883. Trong đó, có nhiều khoản không chịu được, nhưng đành phải chấp nhận. Nay triệt bãi quan quân các quân thứ Bắc Kỳ; chấp nhận quan chức do Pháp chọn, đặt ở ngoài đó.
(sđd., tr. 226 – 227).
Như vậy, Hiệp Hòa đã hoàn toàn đầu hàng, thực hiện “hòa” ước Hà A mang (Harmand) – Nguyễn Trọng Hợp (*) khá triệt để!
---- (*) Theo lệ thường, các nhà nghiên cứu gọi đây là “điều ước Harmand – Trần Đình Túc”. Xem vài dòng ghi chú, lược chép ở mục tháng này, phía trước, sđd. tr. 225. ----

++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) xin tạm cải cách việc thu thuế vì bấy giờ lắm sự tệ hại xảy ra.
(sđd., tr. 228).
++ Sắp đưa quan tài vua Tự Đức đi an táng tại Khiêm lăng; chuẩn bị các nghi lễ.
(sđd., tr. 228 – 229).
+++ Tháng tám âl..
++ Rước quan tài Tự Đức.
(sđd., tr. 229).
++ Pháp vào huyện An Dương (Hải Dương), bức tri huyện Trần Đôn. Trần Đôn trầm mình.
(sđd., tr. 229).
++ Dụ cấm lời đồn bậy (giả “hòa” rồi lại đánh nhau; vấn đề lương, giáo dọa nạt nhau) khiến nhiều người gống gánh tản cư…, đặc biệt ở Thừa Thiên (nhất là tại Quốc tử giám), Quảng Trị, Quảng Bình. Thật ra, đó là dư luận xôn xao trước tình thế và tinh thần quyết chiến của sinh viên. Phủ doãn, tỉnh thần chỉ im lặng, không trấn áp dư luận.
(sđd., tr. 229 – 230).
++ Hồng Phì: tả tham tri Bộ Lại.
(sđd., tr. 230).
++ Quan Khoa đạo (ngự sử Đô sát viện) Hoàng Côn, Đặng Trần Hanh tâu hặc Trần Tiễn Thành về việc Dục Đức cắt bỏ di chiếu (sao lục ra, tự tay xóa bỏ; bản chính còn nguyên vẹn thủ bút Tự Đức) và Trần Tiễn Thành còn “đọc hàm hồ không rõ” (nguyên văn) đoạn ấy. Hiệp Hòa căn cứ vào tờ tâu thú tội của Trần Tiễn Thành, đưa ra nhận định: 3 đại thần Cơ mật viện (Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết) đã xin vua Tự Đức bỏ đoạn kể về tính hiếu dâm, tâm tính xấu, tật bệnh về mắt và nguy cơ “không đảm đương nổi việc lớn” của Dục Đức, vua Tự Đức không đồng ý (*). Các quan lại cho rằng, hẳn Trần Tiễn Thành đã gợi ý cho Dục Đức. Đình thần nghị xử: Cách chức, phạt trượng. Hiệp Hòa chỉ chuẩn cho giáng 2 cấp, lưu dụng.
(sđd., tr. 231).
---- (*) Theo bài viết của Đào Duy Anh (cháu rể của Trần Tiễn Thành) trong NNBCĐH. (BAVH., 1944) về Trần Tiễn Thành (xem bản dịch của Bùi Trần Phượng, trong cuốn “Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành”, Nguyễn Đắc Xuân biên soạn, sđd., tr. 13 – 87): Tờ tâu của Trần Tiễn Thành viết rõ là Nguyễn Văn Tường cho rằng, chiếu lập vua nối ngôi và kể tội Dục Đức như thế, e rằng không hợp lắm, xin bỏ bớt đoạn ấy đi. Trần Tiễn Thành và Tôn Thất Thuyết đều đồng ý, cùng làm sớ xin vua Tự Đức cắt bỏ. Tự Đức vẫn không đồng ý bỏ bớt đoạn di chiếu ấy (sđd., tr. 71). Xem nguyên văn tờ tâu của Trần Tiễn Thành ở sđd.. ----
_________________

Phụ lục 2 của chương bảy:
Nguyên văn
đoạn viết về việc 3 đại thần đã xin vua Tự Đức bỏ bớt đoạn răn bảo Dục Đức, Tự Dức không đồng ý; nay xét xử tội “truyền tả chế thư sai lầm” của Trần Tiễn Thành, tháng 8 Quý mùi (tháng 9.1883); trích trong ĐNTL.CB. , tập 35, Nxb. KHXH.,1976, tr. 231, như sau:
“Khoa đạo là Hoàng Côn, Đặng Trần Hanh tâu nói: “Hôm trước ở Tả vu điện Cần Chánh, cứ viên đồng phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết nói rõ, là có một đoạn trong di chiếu của tiên đế răn bảo vua nguyên nối ngôi, vì vua nguyên nối ngôi sao lục ra đã bỏ bớt đi, đại thần Trần Tiễn Thành tuyên đọc cùng bỏ đoạn ấy đi, có phần không phải”.
Trẫm xét: “Ngày tiên đế ngồi tựa ghế ngọc, các phụ chính đại thần đã xin bớt đoạn ấy đi. Tiên đế không nghe, đủ biết là tiên đế nghĩ việc phó thác tôn miếu, xã tắc là việc trọng đại, lo sâu nghĩ xa, cho nên nói khẩn thiết như thế. Đại thần được dự nghe mệnh lệnh dặn lại, phải nên trên thể theo ý của tiên đế mà tuyên bố cho mọi người nghe, lại coi như bỏ rơi; trước đã xin bớt mà không được, nay lại tự bỏ đi mà không đọc”.
Tôi cho là: “Vua nguyên nối ngôi bỏ bớt lời di chiếu, chưa chắc đã không phải tự viên đại thần ấy dẫn đường ra trước. Vậy xin giao cho đình thần bàn xét để nghiêm kỷ cương”.
Vua giao cho đình thần bàn, mọi người đều xin chiểu luật “truyền tả chế thư sai lầm” mà xử tội trượng, cách chức.
Vua cho là đời xưa thời bình chính giản, cũng còn dùng người cũ, nữa là ngày nay thời khó khăn, việc nhiều, há nên đem viên đại thần 4 triều, lầm một cái mà không dung thứ ư? Đổi làm giáng 2 cấp, lưu [dụng – TXA. ct.]”.

___________________

++ Tàu binh Pháp bắn ở cửa biển Y Bích (Thanh Hóa), rồi bỏ đi.
(sđd., tr. 231).
++ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tâu xin đem vấn đề phạm pháp (phạm quy chế cung cấm, đưa người tùy tiện vào; bê trễ việc quân khẩn cấp; bất hiếu, không để tang, tính chuyện trang sức ngay; cắt bỏ di chiếu) của Dục Đức cho Phủ Tôn nhân, đình thần nghị xử. Quyết nghị: Ưng Chân (Dục Đức) vẫn được ở nhà cũ là Dục Đức đường; chỉ còn là công tử; bị quản chế tại nhà; được chu cấp các khoản chi tiêu. Theo đình thần: Xử Dục Đức như vậy cho vẹn cả ân tình lẫn pháp luật. Vua Hiệp Hòa không đồng ý, giao cho Cơ mật viện – Thương bạc xét lại bản án và hình phạt. Cơ mật viện – Thương bạc xét nghị xong, vua Hiệp Hòa vẫn không bằng lòng, và vua lại tự ý xử nặng hơn: Chuyển Dục Đức đến giảng đường Viện Thái y…
(sđd., tr. 231 – 232).
++ Tường thuật lại vụ thất thủ thành cũ, thành mới tỉnh Hải Dương: 10 tháng 7 âl., Quý mùi (1883), giặc Pháp chiếm thành cũ, treo cờ “tam tài” (cờ nước Pháp). Pháp lại đánh phá thành mới. Lê Điều (tổng đốc, trước đây thay Phạm Phú Thứ, từ đó đến nay) cho đề đốc đưa quân ra đánh. Quân ta vỡ. Lê Điều cho lui quân, đóng ở Cẩm Giàng, Đường Hào.
(sđd., tr. 232 – 233).
(xem thêm: sđd., tr. 225 – 226 [thành Hải Dương mất]).
++ Ngày bính thìn tháng 8 âl., sắc mặt trời trở nên xanh. Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết dâng sớ xin từ chức phụ chính đại thần, xin vua tự phê bình. Vua xuống dụ, nhắc nhở các quan tự xét mình, xét lại việc vua đã làm. Vua không cho 3 đại thần từ chức.
(sđd., tr. 234).
++ Một lần nữa, vua Hiệp Hòa xuống dụ triệt bãi các quân thứ Bắc Kỳ, và cho rằng “hòa” ước có nhiều khoản nhục nhã, nhưng vạn bất đắc dĩ phải chấp nhận.
(sđd., tr. 234 – 235).
++ Tôn Thất Thuyết xin từ chức thượng thư Bộ Binh, vì có dư luận không thiện cảm. Vua giao cho Cơ mật viện – Thương bạc bàn. Cơ mật viện – Thương bạc tâu: Việc Bộ Binh lâu nay vẫn bị lần lữa (thời Trần Tiễn Thành); hiện thời khó có người thay được Tôn Thất Thuyết…; để tránh lời gièm pha vua tôi ngờ vực nhau, xin đổi bổ làm thượng thư bộ khác. Vua cho là phải. Tôn Thất Thuyết: thượng thư Bộ Lễ; rồi sau khi Nguyễn Trọng Hợp làm khâm sai ra Bắc, tức là khoảng vài ngày sau, Tôn Thất Thuyết lại chuyển làm thương thư Bộ Lại.
(sđd., tr. 235 – 236).
++ Quản đốc Ti Hành nhân Nguyễn Hữu Cư: tham biện Thương bạc.
(sđd., tr. 236).
++ Dụ Bộ Hộ: giảm chi tiêu việc công.
(sđd., tr. 236).
++ Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc và quan binh nước Thanh đánh bại 12 chiếc tàu thủy với 2.000 lính Pháp. Cuộc chiến đấu dữ dội diễn ra trong 3 ngày đêm; kết quả: liên quân bên ta bắn vỡ 3 chiếc tàu Pháp, hạ sát 300 tên giặc.
Hoàng Tá Viêm tâu vào triều đình tin thắng trận, và cũng xin rút binh dõng về Sơn Tây. Đến đó, sẽ xin tâu tiếp. Vua Hiệp Hòa lại dụ triệt bãi ngay, theo “hòa” ước Quý mùi 1883!
(sđd., tr. 236 – 237).
++ Nguyễn Trọng Hợp, Trần Văn Chuẩn, Hồng Phì, Đinh Văn Giản ra Bắc để cùng Pháp bàn việc thực hiện “hòa” ước Quý mùi (1883)!
(sđd., tr. 237).
++ Pháp đem kị binh đi đường bộ đến Nam Chân (Nam Định). Vua dụ: Không khiêu khích chúng; dò xét xem.
(sđd., tr. 238).
++ Bộ Hộ (Nguyễn Văn Tường) và Nha Thuyền chính tâu hặc bọn tham ô.
(sđd., tr. 238).
++ Pháp bắt giam tỉnh thần Hải Dương ở tàu thủy của chúng, buộc làm việc. Vũ Túc (bố chính sứ) bị chúng ép cung khai. Pháp làm nhục Vũ Túc vì Vũ Túc không chịu khai báo. Vũ Túc uất ức chết. Sau đó, nhờ nhóm khâm sai từ Huế ra thương thuyết, Lê Điều, Nguyễn Văn Phong mới được tha (liền cáo ốm, xin nghỉ).
(sđd., tr. 238 – 239).
++ Tổng đốc Hà Nội Vũ Nhự bị điều về kinh đô Huế, vì Pháp căm ghét.
(sđd., tr. 239).
++ Hiệp Hòa lại bổ nhiệm người thân bên ngoại vì tình cảm riêng.
(sđd., tr. 239).
++ Tổng đốc Quảng Đông Tăng Quốc Thuyên gửi thư. Vua Hiệp Hòa cho rằng Tăng Quốc Thuyên cũng sợ Pháp hiềm thù; nay nhà Thanh có giúp ta đánh Pháp, cũng đã muộn mất rồi.
(sđd., tr. 239).
++ Từ tháng 7 âl., Trần Tiễn Thành bị bệnh tê buốt 2 chân, xin miễn vào chầu, chỉ lưu ở công đường làm việc. Nay xin thôi việc hẳn. Vua cho nghỉ.
(sđd., tr. 240) (*).
---- (*) Theo “Đại Nam liệt truyện”, tập 4, sđd., tr. 169 – 170, Trần Tiễn Thành bị bệnh từ đầu năm 1883. ----
+++ Tháng chín âl..
++ Vua Hiệp Hòa rước mẹ ruột (hoàng thái phi) vào cung ở; Hiệp Hòa đã cung tiến tiền, vàng, bạc và vải vóc.
(sđd., tr. 242).
++ Thưởng theo thủ tục ngoại giao cho khâm sứ Tham Bô (De Champeaux), kí lục, thông ngôn.
(sđd., tr. 242).
++ Pháp đào xác Vi Ê (Henry Rivière) đem về.
(sđd., tr. 242).
++ Vua lại dụ các quân thứ, tỉnh thần Bắc Kỳ: “Hòa” ước có một số khoản sẽ đổi; nay vẫn phải triệt bãi quan quân các quân thứ, quan chức các tỉnh huyện về lị sở cũ…
(sđd., tr. 242 – 243).
++ Công sứ Pháp đến Khiêm cung chơi xem. Đó là nơi hoàng hậu Vũ thị cư tang. Không ngăn cản y được.
(sđd., tr. 243).
++ Pháp lên núi Linh Thái đánh dấu. Cơ mật viện – Thương bạc thương thuyết về việc này theo lệnh vua.
(sđd., tr. 243).
++ Đoàn Văn Hội: thượng thư Bộ Công. Đoàn Văn Hội dâng sớ xin từ.
(sđd., tr. 244).
++ Pháp đặt công sứ ở Ninh Bình, Quảng Yên, có những hành vi ngang ngược.
(sđd., tr. 244).
++ Bùi Ân Niên cáo ốm, không đi nhận chức.
(sđd., tr. 245).
++ Giảm 7 phần 10 thuế cửa tuần cho Tuyên Quang.
(sđd., tr. 245).
++ Bộ Hộ tâu: Việc chi lương cho Khiêm Hoàng hậu. Vua: Bàn định lương cho hoàng thái phi và Khiêm hoàng hậu, do Bộ Hộ và Bộ Lễ. Vua gợi ý mức lương (mức của hoàng thái phi còn cao hơn cả mức lương của Khiêm hoàng hậu [lẽ ra là hoàng thái hậu]!).
(sđd., tr. 246).
++ Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Hữu Cư theo sắc dụ đến Sứ quán thông báo cho khâm sứ Pháp biết là tuần phủ Quảng Tây Nghê Văn Úy vừa đưa văn thư, rằng nước Thanh sẽ sai sứ sang phong sắc cho vua Hiệp Hòa. Pháp trịch thượng đòi xem thư báo tang vua Tự Đức và thư nhà Thanh thông báo phong sắc! Cơ mật viện – Thương bạc theo sắc dụ, đành trao cho Pháp xem.
(sđd., tr. 246).
++ Không cho Tạ Hiện về làm đề đốc Thanh Hóa theo lời xin của tỉnh thần, vì sợ Tạ Hiện gây thanh tích (tiếng tăm, dấu vết).
(sđd., tr. 247).
+++ Tháng mười âl..
++ Giặc Pháp ngang ngược bắt hiếp lấy hai thớt voi ở Mỹ Đức (Hà Nội).
(sđd., tr. 247).
++ Công sứ Pháp yêu cầu ta phái lính tỉnh để bắt cướp ở Hải Dương.
(sđd., tr. 248).
++ Pháp trịch thượng làm trụ sở và đòi kiểm tiền, khí giới ở Hưng Yên.
(sđd., tr. 248).
++ Giảm thuế cho Hưng Hóa.
(sđd., tr. 248).
++ Triệt Tôn Thất Hòe, Tạ Hiện về kinh. Tôn Thất Hòe giả ốm, nay bị triệt về. Tạ Hiện xin lưu lại, rồi sau đó nhận ấn đề đốc của quân Thanh để mộ người khởi nghĩa.
(sđd., tr. 248).
Mặc dù mục tiêu đánh Pháp là chính nghĩa, nhưng nhận ấn nhà Thanh (Trung Hoa) là một sai lầm về chính trị, tổn thương đến quốc thể, nhân dân khó lòng hưởng ứng!
++ Bộ Hộ tâu về nạn bão và thóc ướt ở Thanh Hóa.
(sđd., tr. 248).
++ Thân hào Quảng Trị, Thừa Thiên chiêu mộ dân dũng chống Pháp. Vua sai phủ, tỉnh thần hiểu thị.
(sđd., tr. 249).
++ Vua Hiệp Hòa không cho quân Thanh vào thành Bắc Ninh, vì … sợ trái “hòa” ước Quý mùi 1883!
(sđd., tr. 249).
++ Pháp tặng bội tinh và phẩm nghi (bội tinh tặng Trần Đình Túc), theo thông lệ ngoại giao, về việc kí “hòa” ước Quý mùi 1883!
(sđd., tr. 253).
++ Tán tương quân thứ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật nhận ấn nước Thanh (danh nghĩa quá sai lầm!) để chiêu mộ dân dũng đánh Pháp (mục tiêu chính nghĩa) .
(sđd., tr. 253).
++ Tuy Lý vương Miên Trinh đến Sứ quán Pháp xin thuốc chữa bệnh (!?!). Viện – Bạc tâu hặc việc trái phép đó. Hiệp Hòa cứ cho rằng ông ấy là người yêu nước (!), trung thành, có học, nhưng vẫn trách, bảo lần sau phải có đình thần cùng đi cho hợp lệ.
(sđd., tr. 253 – 254).
++ Bộ Binh tâu về việc huấn luyện quân.
(sđd., tr. 254).
++ Pháp bắt Nguyễn Văn Phong (tuần phủ Hải Dương), Hoàng Vỹ (tuần phủ Quảng yên), vì chúng ngờ hai ông liên lạc với quân thứ Sơn Tây (Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc), và chở vào Gia Định. Pháp lại bắn chết tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận (chở thuốc súng, lương thực lên Sơn Tây) và bắt cả án sát Vũ Ích Khiêm, nhưng sau đó lại tha án sát này. Vũ liền cáo bệnh, nghỉ.
(sđd., tr. 255).
++ Nguyễn Khắc Vỹ: thự bố chính sứ thăng lãnh tuần phủ Hải Dương; thự tuần phủ Quảng Trị – Quảng Bình Đinh Nho Quang: thự tuần phủ Hưng Yên.
(sđd., tr. 255).
++ Pháp mời Tuy Lý vương Miên Trinh sang sứ quán thương thuyết. Sau đó, Tham Bô (De Champeaux) vào triều yết.
(sđd., tr. 255).
++ Ngày 30 tháng 10 âl., Quý mùi (1883), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất thuyết phế và cho lệnh tử hình Hiệp Hòa, tử hình cả Trần Tiễn Thành. Hai vị phụ chính đại thần cùng hoàng thân, đình thần lập hoàng tử thứ ba Ưng Đăng lên làm vua, lấy niên hiệu là Kiến Phúc (*1).
Hiệp Hòa ghét Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, muốn tước bớt quyền của hai phụ chính này (*2). Bề ngoài vẫn ưu đãi, nhưng bên trong lại tìm cách đè nén: đổi Tôn Thất Thuyết sang Bộ Lại, không cho nắm binh quyền; tờ tâu của 6 bộ, giao Nội các duyệt tâu, không giao cho hai phụ chính. Hiệp Hòa muốn quyền quân sự và quyền chính trị của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không còn nữa (sđd., tr. 236).
Tham tri Bộ lại Hồng Phì (con trai Tùng Thiện vương Miên Thẩm) và tham biện Nội các Hồng Sâm (con trai Tuy Lý vương Miên Trinh) mật tâu giết hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Hiệp Hòa cũng bí mật âm mưu với Hồng Phì, Hồng Sâm. Tuy Lý vương Miên Trinh và con trai là Hồng Tu cũng đồng mưu. Đáng kể nhất, đó là việc Trần Tiễn Thành (*3) đã cùng chủ mưu với các hoàng thân ấy và với vua Hiệp Hòa. Trần Tiễn Thành đêm đêm đến dinh Hồng Phì bàn kín âm mưu, quyết giết Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Hiệp Hòa dùng kế li gián, muốn mượn tay Nguyễn Văn Tường giết Tôn Thất Thuyết, lại muốn mượn tay Tôn Thất Thuyết giết Nguyễn Văn Tường. Hai vị phụ chính lại nói rõ với nhau ý đồ đen tối và độc ác của Hiệp Hòa (cũng của nhóm Trần Tiễn Thành, Miên Trinh, Hồng Phì, Hồng Sâm, Hồng Tu). Tham Bô (De Champeaux) vào chầu yết, bàn bạc với Hiệp Hòa về việc “hòa” (thực chất là đầu hàng, làm nô lệ giặc Pháp)… Hai vị phụ chính kiếm cớ, tránh mặt, không dự việc ấy (*4). Hiệp Hòa cho Tuy Lý vương chuyên đi lại Sứ quán Pháp để bàn bạc… Hai vị phụ chính hiểu rõ âm mưu câu kết giữa thực dân Pháp và bè lũ chủ “hòa”, đồng thời biết Hiệp Hòa đem việc lập đội quân hương dũng (*5) của Tôn Thất Thuyết với ý định phản công, truất phế Hiệp Hòa của hai vị ra cầu cứu với Pháp.
Ngày 29 tháng 10 âl., lúc canh hai (19 – 21 giờ khuya), cửa hoàng thành đều đóng kín. Tôn Thất Thuyết thu tất cả chìa khóa, bảo là bên ngoài có kẻ dị dạng (*6) họp, nên cần phải mật phòng, điểm binh (ở bờ nam sông Hương). Trong thành, quân lính đều sẵn sàng khí giới. Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ dẫn quân đến đóng ở Sở Tịch điền. Sau đó, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cho mời văn võ đình thần (hiện đang ở ngoài hoàng thành) cùng đến họp mặt ở công đường Bộ Hộ (chỗ Nguyễn Văn Tường ở). Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tố cáo Hiệp Hòa trái phép cũ, mật kết với bọn có âm mưu sâu độc; và xin phế bỏ Hiệp Hòa, lập hoàng tử Ưng Đăng lên làm vua. Sau đó, hai vị làm tờ tâu; chuyển đình thần đến Sở Tịch điền (vắng Đoàn Văn Hội). Tờ tâu đã có chữ kí các quan. Bản thảo tờ tâu cũng được hai phụ chính chủ chiến cho đem đến nhà Trần Tiễn Thành, nhưng Trần Tiễn Thành không đồng ý.
Canh tư (1 – 3 giờ khuya về sáng), Nguyễn Hanh và Lê Đại cùng biền binh lên Khiêm lăng đón rước Ưng Đăng về. Ưng Đăng rất sợ hãi. Về đến nơi, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng các quan lạy mừng, xin lập lên làm vua. Ưng Đăng: “Ta còn bé, sợ không làm nổi” . Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết: “Tiên đế đã có ý ấy, nhưng chưa kịp làm (*7). Nay là mệnh trời vậy. Xin nghĩ đến: Tôn miếu, xã tắc là quan trọng” .
Sáng sớm ngày 30 tháng 10 âl. (Quý mùi [1883]), hai vị thông báo cho các quan trực đêm hôm ấy: Hà Văn Quan, Trần Văn Cư, Hồ Lệ, Lê Duy Thụy, Tôn Thất Thạ. Bấy giờ, Đoàn Văn Hội mới đến họp.
Đến lúc khoảng 5, 6 giờ sáng, Hiệp Hòa mới hiểu có sự biến. Chung quanh chỉ còn vài viên thái giám. Hiệp Hòa đành tự phê tờ chiếu nhường ngôi và ngồi đợi.
Đến giờ mùi (13 – 15 giờ chiều), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đón Ưng Đăng vào Viện Cơ mật tạm nghỉ; đem tờ tâu xin bỏ vua Hiệp Hòa và xin lập Ưng Đăng lên làm vua, tâu lên Từ Dũ thái hoàng thái hậu để lấy ý chỉ thi hành. Từ Dũ đã đồng ý với hai vị phụ chính.
Suốt đêm đến sáng, tới lúc này, cửa kinh thành đều đóng kín bốn phía. Hai vị phụ chính bấy giờ mới cho mở cửa Tây Nam (cửa Hữu) để gọi rước các hoàng thân vào. Đến Tả vu, ai cũng im lặng, nhìn nhau, không nói lời nào.
Miên Trinh, Hồng Tu, Hồng Sâm chạy xuống Thuận An, vào tàu thủy Pháp cầu cứu, ẩn nấp. Miên Triệu (Hoằng Hóa công), Miên Tằng (Hải Ninh quận công) cũng đều xuống ở đó. (Hồng Phì ở Bắc Kỳ về, đến Quảng Trị, nghe tin, cũng thuê thuyền về Thuận An, vào ở trong tàu thủy Pháp).
Bấy giờ, Hiệp Hòa mới biết âm mưu câu kết với Pháp, để hoàn toàn chịu “bảo hộ” và để giết hai vị phụ chính chủ chiến, đã bại lộ, đành sai thái giám Trần Đạt đem tờ chiếu nhường ngôi đến chỗ Ưng Đăng và hai vị phụ chính. Hai vị phụ chính vờ chấp nhận yêu cầu, cho Hiệp Hòa về lại phủ cũ ở xã Phú Xuân. Tôn Thất Thạ đưa Hiệp Hòa về, cùng với phi tần, nội cung, bằng võng lọng. Ông Ích Khiêm và Trương Văn Đễ đã được dặn trước, đón ở cửa Hiển Nhân, sai lính đưa Hiệp Hòa vào Nha Hộ thành (Dục Đức đường cũ), rồi cho uống thuốc độc, giết đi (tức là thi hành án theo lệ tam ban triều điển). Lúc này các phi tần đã về trước, chỉ một mình Hiệp Hòa bị đón lõng.
Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ dâng thuốc độc cho Hiệp Hòa, Hiệp Hòa không chịu uống. Trương Văn Đễ khóc, lạy và nói: “Vua tôi đến lúc biến, không thể làm thế nào được” . Hiệp Hòa nói: “Ta lại không được bằng Thụy quốc công à?” . Ý nói, xin được xử như Dục Đức, hiện đang được ở tại giảng đường Viện Thái y. Hiệp Hòa vẫn không chịu uống. Ông Ích Khiêm đem nước chè có pha thuốc độc ấy đổ vào miệng Hiệp Hòa. Hiệp Hòa luội người, xanh tái hẳn, như trúng gió. Một lúc khá lâu sau đó, Trần Xuân Soạn chạy ra bảo, nếu chậm quá sẽ bị tội nặng. Và Trần Xuân Soạn bóp cổ Hiệp Hòa đến khi tắt thở.
Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ vào báo tin đã hành quyết xong Hiệp Hòa. Hai vị phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đón rước hoàng tử Ưng Đăng vào điện Hoàng Phúc, đợi chọn ngày tốt, tôn lên làm vua.
Cũng vào đêm 29 tháng 10 âl. ấy, hai vị phụ chính đã cho mang bản thảo tờ tâu (sẽ kính đệ trình lên Từ Dũ để xin truất bỏ Hiệp Hòa, lập Ưng Đăng làm vua), đưa cho Trần Tiễn Thành, dặn bảo Trần Tiễn Thành nên thuận theo, nhưng Trần Tiễn Thành không đồng ý. Đêm hôm sau, Trần Tiễn Thành liền bị giết chết tại nhà riêng, ở ấp Doanh Thị Trung. Cái chết của Trần Tiễn Thành, trước hết là do chính Trần Tiễn Thành đã âm mưu cùng nhóm Hồng Phì và vua Hiệp Hòa, câu kết với De Champeaux (*8), để chịu chấp nhận đất nước bị giặc Pháp “bảo hộ”, và để giết Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Hai vị phụ chính này từ lâu đã biết rõ lòng dạ sâu độc của Trần Tiễn Thành, nên buộc Trần Tiễn Thành phải nghỉ ở nhà, không được đến làm việc ở Viện Cơ mật nữa. Việc Trần Tiễn Thành cáo ốm xin nghỉ chỉ là cái cớ bên ngoài đưa ra trước công luận mà thôi. Và cái chết của Trần Tiễn Thành lại được Phủ Thừa Thiên cho là do bọn cướp giết. Phủ Thừa Thiên ghi vào biên bản với nội dung như thế, mặc dù mọi người đều cho rằng chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã ra lệnh giết chết Trần Tiễn Thành (*9).
Về Hồng Phì, Hồng Tu, Hồng Sâm… Sau đó, Pháp đã đành phải giao trả những hoàng thân này cho triều đình. Cả 3 đều bị thi hành án tử hình.
(sđd., tr. 255 – 260).
---- (*1) Xin xem nguyên văn ĐNTL.CB. ở phần phụ lục 3 của chương bảy này.
(*2) Nguyên nhân của việc Hiệp Hòa ghét bỏ Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 255 ghi là do hai vị: “Tường, Thuyết cậy công tôn lập lên, việc gì cũng chuyên quyền làm bậy”. Nhưng đọc kĩ, không thấy cậy công lúc nào, làm bậy việc gì! Chẳng lẽ tinh thần chủ chiến là “bậy”?!? (xem lại: sđd., tr. 205 – 260). Điều thấy rõ là các bản dụ, kể cả mật dụ, của Hiệp Hòa ở 1, 2 tháng đầu sau khi lên ngôi, đậm tinh thần quyết chiến, là do ảnh hưởng bởi Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết.
(*3) Trần Tiễn Thành, từ 1881, cách thời điểm này 2 năm, đã đồng ý với De Champeaux trong việc tác động lên vua Tự Đức để Nguyễn Văn Tường rời khỏi chức vụ đại thần quản lí Thương bạc sự vụ, mặc dù đó là một chức vụ mà Nguyễn Văn Tường đã hai lần từ khước. (Xem lại: Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB. KHXH.TU. Tp. HCM. xb., sđd., 1993, tr. 270: Lời dẫn của Y. Tsuboi trước khi trích phúc trình của De Champeaux, gửi thống đốc Nam Kỳ, từ Huế, 06.02.1881 [mùng tám Tết Nguyên đán Tân tị], AOM. Aix, Amiraux 12923).
(*4) Quốc sử quán triều Nguyễn chỉ hé ra một chi tiết này để nói lên rằng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết không chấp nhận “hòa” ước Quý mùi 1883.
(*5) Phấn nghĩa quân (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 63 – 64).
(*6) Bọn ăn mặc khác thường.
(*7) Xin xem lại di chiếu, di chúc của Tự Đức. Tự Đức muốn lập Ưng Đăng (về sau là Kiến Phúc), nên phê phán Ưng Chân (Dục Đức) và Ưng Kỹ (về sau là Đồng Khánh) ngay trong di chiếu và di chúc… Nhưng dẫu sao, Dục Đức và Hiệp Hòa (Hồng Dật) cũng đáng tội phải phế truất, còn Ưng Kỹ, hạnh kiểm xấu đến thế, thì không thể lập làm vua được! Xem thêm: ĐNTL.CB., sđd., tr. 19 – 20.
(*8) Tư liệu về nhóm chủ “hòa”, câu kết với Pháp, đứng đầu là Trần Tiễn Thành, Tuy Lý vương, Hiệp Hòa: Năm Canh thìn (1880) và Tân tị (1881), Trần Tiễn Thành đã câu kết với De Champaux (AOM. Aix, Amiraux 12923, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB. KHXH.TU. Tp. HCM. xb., sđd., 1993, tr. 270); Xem lại mục tháng giêng âl. Tự Đức năm thứ 34, Tân tị (1881); Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam (1857 – 1914), luận án tiến sĩ tại Pháp, bản dịch ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973, tr. 31 (bức điện tín trên được lưu trữ tại Thư khố Bộ Hải ngoại Pháp, mang kí hiệu thư khố: A 30 (58), hộp 16): “Theo một điện tín của thống đốc Nam Kỳ gửi bộ trưởng Hải quân ngày 10 tháng 12 năm 1883, Hiệp Hoà bày tỏ trong mọi lúc cảm tình của ông ta đối với Pháp. Ông đã bí mật phái chú là Tuy Lý vương đến Toà sứ Pháp để hỏi De Champeaux là, nếu trong trường hợp có biến động, ông có được Pháp giúp đỡ không? De Champeaux trả lời có, và nhiệt thành khuyến khích ông chống lại cận thần. Cuộc viếng thăm này làm triều đình lo ngại, họ làm đủ mọi cách để biết nội dung câu chuyện nhưng vô ích”.
(*9) Đó chỉ là ghi nhận của Quốc sử quán triều Nguyễn về việc Phủ Thừa Thiên lập biên bản và về dư luận của mọi người lúc ấy (ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 259 – 260). Chúng tôi (người biên soạn [TXA.]) xét nghĩ rằng, Trần Tiễn Thành bị giết không phải do lệnh Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết mà do sự nghĩa phẫn của hoàng thân và sĩ phu. Hai vị phụ chính đã ra lệnh thi hành án Hiệp Hòa (hoàng đế), thì còn ngại gì lại không dám công khai thi hành án Trần Tiễn Thành? Ở ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 68: “bị cướp giết chết” (nguyên văn). Tuy nhiên, ở tập 37, sđd., tr. 136: “giết vua, giết quan” (nguyên văn)
.
______________________

Phụ lục 3 của chương bảy:
Nguyên văn trong ĐNTL.CB.
, tập 35, Nxb. KHXH., 1976, tr. 255 – 260: Vụ phế truất, thi hành án vua Hiệp Hoà cùng Trần Tiễn Thành và những kẻ đồng mưu câu kết với thực dân Pháp, tháng 10 Quý mùi (tháng 11.1883), như sau:
“[Tiểu đề:] Ngày đinh sửu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế vua và giết đi, và giết cả đại thần Trần Tiễn Thành; lập hoàng tử thứ 3 lên làm vua.
[Thuyết:] Trước đây, phế đế đã nối ngôi, Tường, Thuyết cậy công tôn lập lên, việc gì cũng chuyên quyền làm bậy [chủ chiến là làm bậy?!? – TXA. ct.]. Vua ghét hai người ấy, muốn tước bớt quyền đi. Cho nên ngoài mặt vẫn hậu đãi, mà trong ức chế cũng nhiều, (như việc đổi Thuyết sang Bộ Lại, không cho giữ binh quyền; lại tờ tâu của 6 bộ, đều giao cho Nội các duyệt tâu, không chuyên giao cho hai người ấy). Gặp khi những người thân tín của vua là tham tri Bộ Lại Hồng Phì, tham biện Nội các Hồng Sâm mật mưu việc ấy; Tuy Lý vương Miên Trinh, huyện công Hồng Tu đều có dự mưu (Hồng Tu, Hồng Sâm đều là con Tuy Lý vương). Tường, Thuyết đã biết việc ấy. Vua lại muốn dùng mẹo để 2 người giết nhau. Triệu Văn Tường vào nói chuyện, thì bảo Văn Tường là người trung thành, vẫn rất tin cậy; còn Thuyết rất là ngang ngược, dặn Văn Tường tìm cách bỏ Thuyết đi. Thuyết vào hầu, vua cũng nói thế. Hai người lại ra, đều đem lời nói ấy mật bảo nhau; nhân mưu việc bỏ vua mà lập vua khác.
Thuyết bèn lấy cớ là Thuận An sau khi thất thủ, phủ hạt Thừa Thiên nên tự tìm cách bảo vệ gia hương, phát hổ phù (*) ra mật sai mộ nhiều hương dũng (nhưng sai người thân tín là Kỳ nội hầu Hồng Chuyên, phò mã Đặng Huy Cát chia nhau cai quản) để phòng sai khiến. Người ngoài chưa ai biết cả. Gần đây phái viên nước Pháp nhân hoà nghị đến xin chầu yết, hai người kiếm cớ tránh mặt, không dự việc ấy. Vua lại đặc cách sai Tuy Lý vương chuyên đi lại sứ quán bàn bạc. 2 người ngờ vua đem mưu ấy dặn Tuy Lý vương cầu cứu với người Pháp. Bèn vào ngày bính tí là ngày 29 tháng ấy [**], lúc canh hai, các cửa hoàng thành, kinh thành đã đóng kín, Thuyết thu hết cả chìa khoá cửa. Bèn trước nói dối là đêm ấy nghe nói ngoài thành có bọn bậy bạ họp kẻ dị dạng, xin tự kiểm biền binh, mật phòng bị sẵn, biên ra giao cho quan trực hầu tâu lên. Rồi ngoài thì phát ra hổ phù, sai họp tất cả [quân] mộ dũng ở bờ phía nam sông Hương; trong thì đòi gọi các quân đều mang khí giới, do các viên Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ đi trước, dẫn đến đóng ở Sở Tịch điền. Cho mời văn võ đình thần người nào hiện ở ngoài hoàng thành cũng đến công đường Bộ Hộ (chỗ Văn Tường ở). Hai người bảo rằng: “Lãng quốc công nối ngôi đến nay, làm việc phần nhiều trái phép cũ, lại gần gũi người bậy (ngầm chỉ bọn Hồng Phì, Hồng Sâm, Hồng Tu), người đều không phục. Nay nên xin bỏ đi, đón hoàng tử thứ 3 lên nối nghiệp lớn”. Lúc bấy giờ các quan đều vốn sợ uy lệnh của 2 người ấy, không ai dám nói điều gì khác. 2 người bèn một mặt dự làm tờ tâu, một mặt đem văn võ đình thần chuyển đến Sở Tịch điền, (duy có thượng thư Bộ Công là Đoàn Văn Hội cáo ốm không đến); sai đem tờ tâu lấy chữ các quan kí tên. Lúc bấy giờ đã trống canh tư. Bèn sai Hậu quân là Nguyễn Hanh, thị lang Bộ Binh là Lê Đại, trích phái biền binh đi đến nhà Dưỡng Thiện ở Khiêm lăng, (hoàng tử thứ 3 nguyên ở Dưỡng Thiện đường, ở bên hữu nhà Duyệt Thị gần đấy; rước linh cữu tiên đế để ở điện Hòa Khiêm tại Khiêm cung, Hoàng tử thứ 3 theo đến ở nhà quan xá ngoài cửa Vụ Khiêm, nhân thể cũng gọi [nhà quan xá ấy – TXA. ct.] là Dưỡng Thiện đường), đón hoàng tử thứ 3. Lúc mờ sáng, về đỗ ở điện Quan canh Sở Tịch điền. Hai người cùng các quan ở Sở ấy đều lần lượt lạy mừng.
(Khi ấy bọn Hanh mới đến đón, hoàng tử thứ 3 rất sợ hãi; bọn Hanh ôm lên võng rước đi. Đến khi về đến nơi, hai người nói với hoàng tử thứ 3 là xin lập lên làm vua. Hoàng tử thứ 3 nói rằng: “Ta còn bé, sợ không làm nổi”. Hai người nói rằng: “Tiên đế đã có ý ấy, nhưng chưa kịp làm. Nay là mệnh trời vậy. Xin nghĩ đến tôn miếu, xã tắc là quan trọng”).
Đến sáng rõ, (tức ngày đinh sửu là ngày 30 tháng 10), hai người thông báo cho các quan hiện túc trực đêm ấy ở trong Nội (văn trực thần là tham tri Hà Văn Quan, võ trực thần là quyền chưởng doanh Hùng Nhuệ Trần Văn Cư, tham biện Viện Cơ mật là Hồ Lệ, tham biện Nội các là Lê Duy Thụy, thị vệ sứ đại thần là Tiền quân Tôn Thất Thạ) đều đến họp. (Lúc bấy giờ Đoàn Văn Hội cùng đến).
Khi đồng hồ 5, 6 chuyển, vua mới biết là có sự biến; hỏi đến những người trực thần, thì chỉ có vài người cung Thái giám; vội vàng thất thố, không biết làm thế nào, chỉ phải dự phê tờ chiếu nhường ngôi, để đợi.
Đến giờ mùi, hai người đón hoàng tử thứ 3 vào Viện Cơ mật tạm nghỉ; và đem tờ tâu bỏ vua cũ, lập vua mới, tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu, lấy ý chỉ để thi hành; lại sai mở cửa mạn tây nam (ngày hôm ấy cửa 4 mặt kinh thành đóng kín cả ngày); cho gọi các hoàng thân, cũng lục tục vào Tả vu. Đến nơi thì ai cũng im lặng, chỉ trông nhau mà thôi.
(Duy Tuy Lý vương, Hồng Tu, Hồng Sâm ở ngoài, nghe biết tin sợ bị vạ lây, bèn đem gia quyến đến chỗ phái viên Pháp đóng ở Thuận An cầu cứu. Hoằng Hoá công Miên Triện, Hải Ninh quận công Miên Tằng cũng sợ hãi đi mất. Sau đấy vài ngày, Hồng Phì đi công sai ngoài Bắc về, đến đầu địa giới Quảng Trị, nghe biết tin tự cho là nguy, lập tức thuê thuyền đến hội với Tuy Lý vương. Sau vì phái viên Pháp giao trả về, cùng với Hồng Tu, Hồng Sâm, đều bị nạn).
Lúc bấy giờ, vua sai thái giám là Trần Đạt đem tờ chiếu nhường ngôi, yêu cầu lui về chỗ phủ cũ. Hai người giả cách nhận lời, sai Tôn Thất Thạ đem võng đưa vua cùng phi tần nội cung cho về phủ cũ (ở địa phận xã Phú Xuân), nhưng mật dặn riêng Ích Khiêm, Văn Đễ trực [:chực – TXA. ct.] trước ở ngoài cửa Hiển Nhân, đón đường, sai đưa đến nhà Hộ thành, cho uống thuốc độc giết đi.
(Hộ thành nha nguyên trước là Dục Đức đường, mới đổi tên. Lúc bấy giờ, những phi tần đã cho về trước, để hộ vệ đưa vua. Khi đến đấy, Ích Khiêm, Văn Đễ cho thuốc độc vào nước chè dâng lên; vua không chịu uống. Văn Đễ ra lạy khóc, khuyên rằng: “Vua tôi đến lúc biến không thể làm thế nào được”. Vua nói rằng: “Ta lại không được bằng Thụy quốc công à?”; còn lần chần không uống. Ích Khiêm bèn đem nước chè ấy đổ vào miệng vua; lập tức phát lên như người phải gió. Một lúc lâu, Trần Xuân Soạn ra truyền nói rằng: “Nếu để chậm quá, sẽ phải tội nặng”; lập tức lấy tay bóp họng, vua lè lưỡi, lồi mắt ra, rồi vua mới chết. Đến lúc đưa vua về phủ, thấy chỗ cổ họng vua sưng như cái cung giương lên, ai cũng lấy làm lạ).
Ích Khiêm, Văn Đễ vào bảo rằng: “Lãng quốc công đến đấy đã uống thuốc độc chết rồi”. Hai người bèn rước hoàng tử thứ 3 vào ở điện Hoàng Phúc, đợi sẽ chọn ngày tốt, tôn lên làm vua.
Trần Tiễn Thành cùng hai người ấy vẫn không bằng lòng nhau. Trước đây vì việc tuyên chiếu, đã bị 2 người tham hặc diếc [:nhiếc] móc, giận không quên được. Bọn Hồng Phì mật tâu xin bỏ cường thần, Tiễn Thành cũng có đi lại mật với nhau. (Tiễn Thành đêm thường ngầm đến dinh thự Hồng Phì bàn kín với nhau) . Hai người đã biết. Cho nên việc Tiễn Thành cáo ốm xin về nhà riêng, đều do hai người bắt buộc. Đêm hôm trước họp nhau ở Sở Tịch điền, 2 người cũng có đem bản thảo tờ tâu đến tường với Tiễn Thành, yêu cầu phải theo làm việc ấy. Tiễn Thành lại khước từ, nói rằng: “Bỏ vua nọ lập vua kia, sao có thể làm mãi? Tôi đã bãi chức về nhà, không dám dự việc ấy”. Hai người lại càng ngờ mà ghét. Nhân thể đêm ấy cũng sai người đến giết Tiễn Thành ở nhà riêng (nhà ở ấp Doanh Thị Trung).
Ngày hôm sau (tức là mồng 1 tháng 11) hai người tâu xin chôn vua bằng lễ nghi quốc công, giao cho phủ Tôn nhân chiểu lệ chôn cất. Còn Tiễn Thành thì do phủ Thừa Thiên khám biên cho là bị kẻ cướp giết chết. Đến lúc việc phát ra, ai cũng biết là do 2 người ấy sai người giết, mà chả ai dám nói ra” (***).

---- Phụ lục này (trong cuốn “Nguyễn Văn Tường, ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”) đã người biên soạn đã gửi đăng tải trên Tạp chí điện tử Giao Điểm:

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucI.htm
. ----
---- (*) Hổ phù là tín hiệu để trưng triệu quân lính (chú thích của Viện Sử học).
[**] Về ngày 29.10 Quý mùi, xin xem thêm ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 63 – 64, đã có trích in trong phần phụ lục này. ----
(***) Xin xem lại bài “Lời thưa đầu sách” và chú thích về màu sắc bảo hoàng, chủ “hòa” và sự rụt rè của Quốc sử quán thể hiện ở những đoạn sử tiêu biểu (phụ lục 1 & phụ lục 3 của mục tháng 7 âl., Quý mùi (1883) này), mà người biên soạn đã nhấn mạnh.
Có một điều cần lưu ý: Tờ tâu của Quốc sử quán triều Nguyễn, vào năm Thành Thái thứ 11 [1899] (ĐNTL.CB., tập 27, sđd., tr.7 – 8), đã hé lộ sự “can thiệp” thô bạo: Gia đình Hiệp Hòa cầu xin khâm sứ Pháp đề nghị vua đương nhiệm ra dụ phục hồi và công nhận danh nghĩa cho Hiệp Hòa là “phế đế” (hoàng đế bị truất ngôi) – “đế” (thay vì “công”) với ý nghĩa Hiệp Hòa vẫn được công nhận là hoàng đế chính thống! Do đó, Quốc sử quán buộc lòng phải chữa lại bản ĐNTL.CB. đã hoàn tất, không ghi là “công” mà phải ghi là “đế” với quy cách kèm theo đối với một bậc đế vương chính thống, “bị phế bởi sự cố của nhà nước, chứ không có lỗi lệch gì cả” (nguyên văn)!
Ở đây, đối với người nghiên cứu sử học, không phải là vấn đề thế thứ theo quan niệm và pháp chế truyền ngôi phong kiến, mà chính là "sự cảm tình" của giặc Pháp thống trị đối với Hiệp Hòa (và hẳn là với cả nhóm chủ "hòa" đương thời, gồm Trần Tiễn Thành, Miên Trinh...). Điều đó, hậu thế chúng ta đọc thấy qua màu sắc bảo hoàng, chủ "hòa", rụt rè khi phản ánh sự thật lịch sử, và nhất là sắc thái phản cảm khi viết về nhóm chủ chiến (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết...) trên những trang ĐNTL.CB.. Vì vậy, tôi ra đã sức nghiên cứu và đã viết bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” (Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004) với ý thức phục hồi, tái hiện chính xác sự thật lịch sử.
Xin xem sự kiện này trong bộ sách trên ở địa chỉ websites:

http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/

Xin xem thêm ghi chú ở đoạn đầu của chương tám kế tiếp.TXA.

________________________

H. CHƯƠNG TÁM

XIX. THỜI LÀM ĐẠI THẦN PHỤ CHÍNH, ĐẠI THẦN VIỆN CƠ MẬT – THƯƠNG BẠC, THƯỢNG THƯ BỘ HỘ, ĐẠI THẦN KIÊM QUẢN KHÂM THIÊN GIÁM, TỔNG TÀI QUỐC SỬ QUÁN (THÁI TỬ THÁI PHÓ, THỰ VĂN MINH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, KÌ VĨ HẦU TƯỚC)


++ Ưng Đăng (húy là Hạo, tự là Hỗ), sinh ngày mùng 2 tháng giêng âl., Kỉ tị (1870), con của Kiên Thái vương Hồng Hợi và phủ thiếp Bùi Thị Thanh (người Đồng Dương, Hải Lăng, Quảng Trị). Năm 1871, Ưng Đăng được đưa vào cung, do học phi Nguyễn thị (họ Nguyễn [tên Hương]) nuôi dưỡng. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết khi lập Ưng Đăng lên làm vua, đã tâu: “Đó là ý của tiên đế, nay là mệnh trời. Xin nghĩ lấy tôn miếu, xã tắc làm trọng” . Tôn nhân, đình thần đã xin ý chỉ Từ Dũ; và Từ Dũ đã chấp thuận. Đây là sự nối ngôi chính thống vì Ưng Đăng đã là hoàng tử chính thức thứ ba của Tự Đức (*).
(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 18 – 20).
---- (*) Triều Kiến Phúc (Ưng Đăng) được Quốc sử quán xếp vào một kỉ riêng – đệ ngũ kỉ –, xem như ngang hàng với Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức về mặt chính thống. Dục Đức (hoàng trưởng tử, vi phạm luật pháp, bị truất), Hiệp Hòa (vi phạm luật pháp; không phải hoàng tử của Tự Đức) và cả Hàm Nghi (nhà vua yêu nước, nhưng không phải hoàng tử) chỉ thuộc về “phụ chép”. ----



Hết CHƯƠNG BẢY
Xin xem tiếp CHƯƠNG TÁM
ở tệp 8:
http://tranxuanantsbnnvt2. blogspot.com/



Xếp chữ xong chương bảy, vào lúc 10 giờ 45 phút,
ngày thứ hai (thứ ba cũ) 14-02 HB6 ( 2006 )
[17 tháng giêng, Bính tuất HB6 ]
tại Tp. HCM., Việt Nam.

Lưu ý:
Thứ ba (thứ tư cũ), ngày 15-02 HB6 ( 2006 ),
người biên soạn đã sửa chữa lại một số lỗi trong bản đã đưa lên web-blog, thuộc lỗi gõ phím vi tính.

Trần Xuân An

10.2.06

THƯ NGỎ
KÍNH GỬI QUÝ VỊ TRÂN TRỌNG, YÊU QUÝ SỬ HỌC
& CÁC NHÀ LÀM SÁCH (IN GIẤY) TÂM HUYẾT ...


Thưa quý vị,
Nếu quý vị cảm thấy cuốn sách này cần có trong tủ sách gia đình, trong các thư viện, và cụ thể hơn, là để thuận tiện cho người đọc trong việc đọc sách (thay vì phải truy cập internet thường xuyên), xin quý vị vui lòng liên hệ với người biên soạn để xuất bản với hình thức sách in giấy, theo địa chỉ sau đây:

TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai,
Phường 3, quận Tân Bình,
TP. HCM., Việt Nam
ĐT. (phone): (08) 8453955
& 0908 803 908

Điện thư (e-mail): tranxuanan_vn@yahoo.com

Thưa quý vị,
Như vậy cũng là một cách giúp đỡ cho cuốn sách có bản lưu chiểu (*) cố định bằng giấy trắng mực đen.

Trân trọng
và kính cảm ơn trước.

Kính thư,
Tác giả (người biên soạn):
Trần Xuân An

_____________________

(*) Xin mạn phép ghi chú thêm:
Bản lưu chiểu, thường được hiểu là sách in giấy để lưu trữ trong các tủ sách, thư viện, trung tâm lưu trữ nhà nước và để căn cứ vào đó trong mọi lĩnh vực liên quan (thẩm định, nghiên cứu, kể cả pháp lí ...).
Nói như vậy, không có nghĩa là loại SÁCH ĐIỆN TỬ (E-BOOK) KHÔNG THỂ LƯU CHIỂU. Các thư viện, trung tâm lưu trữ nhà nước trên thế giới vẫn đang lưu chiểu loại sách điện tử (một loại sách có những thế mạnh ưu việt về mọi mặt) bằng đĩa CD cố định (CD không thể sửa chữa). Tuy nhiên, sách xuất bản, phát hành trên các websites vẫn có thể bị sửa chữa, cắt xóa bởi các tin tặc mà nhiều vị chủ biên cũng lo sợ, hoặc được chỉnh lí bởi chính các tác giả mà không thông báo! Riêng người biên soạn sách này không dám vi phạm như thế, nhưng làm sao có thể bảo đảm những đĩa CD sao chép lại cuốn sách này (và những cuốn sách khác của tác giả) không có những sai lệch vô tình hay cố ý ở đâu đó...
Vì một lẽ trong nhiều lí do như vậy, người biên soạn kính viết thư ngỏ này.


________________________________
________________________________


TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886),
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”


(từ “Đại Nam thực lục chính biên”, rút gọn)
dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết


(385 tr. sách 13 cm x 19 cm)

3. 2001
(tháng hai, Tân tị)




XIN VUI LÒNG XEM TỪ WEBLOG 1 CỦA CUỐN SÁCH NÀY
(gồm 6 tệp = khoảng 236 trang sách cỡ 13 cm x 19 cm):

http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/